TKH - banner 03

Search

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Visitor Counter

User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 

 

Dấu Chân Chim

                                                                                                        

  Buổi chiều trên đảo Bidong mang một mầu xám buồn như tâm trạng mỏi mòn của những thuyền nhân đang chờ đợi được gọi tên phỏng vấn. Nhiều người đợi giờ đi ăn, thẫn thờ nhìn ra ngoài khơi, nghĩ lại những giờ phút kinh hoàng đã trải trên mặt biển. Những con thuyền thỉnh thoảng cập bến mang thêm những nặng nề căng kín tâm tư triũ nặng thất vọng của những người nuôi hy vọng có thân nhân vừa vượt thoát ngục tù cộng sản, nay tới bến bờ. Nhưng rồi, những ánh mắt xụp tối khi thấy những thây ma biết đi đang cố lê chân trên cát nóng, những em bé gái kiệt sức vì chặng đường dài thăm thẳm trong cuộc đời với những vết ô nhục trên thân xác được bế vào trại trước những cặp mắt nhìn uất hận. Đó là nơi Phương Vân đã trải qua suốt hơn ba tháng nay, hàng ngày nhìn những người đến rồi đi còn riêng cô bé thấy cô đơn trong sự mỏi mòn chờ đợi.

  Ba năm đã trôi qua, từ ngày mọi sự xụp đổ quanh cô và gia đình, khi cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam với sự đồng lõa của những cường quốc nhường nhịn nhau trên sự chính trị hoá toàn cầu. Ông Thông, vì có mấy năm bị trưng tập ra làm quận trưởng cũng bị bắt đi tù mà Cộng Sản gọi là “cải tạo”một thời gian. Do một sự may mắn hi hữu, hai anh cô bé, anh Vũ và anh Hồng tuy vào tuổi quân dịch nhưng vì nhờ bằng cấp chuyên môn, được triển hạn động viên nên khi cộng quân về, không bị bắt đi học tập cải tạo tư tưởng. Gia đình cô bé phải bị đẩy về vùng KTM vì họ dùng chính sách “tiếp thu tài sản của công nhân viên chức cao cấp chế độ nguỵ” để chiếm đoạt căn villa của ông Thông. Trong suốt thời gian này, dài đằng đẵng như hàng thế kỷ, gia đình cô bé không liên lạc được với bất kỳ một thân bằng quyến thuộc nào ở nước ngoài. Chị Trinh đã theo chồng là TS Nguyễn Đăng Diễm làm giáo sư thỉnh giảng ở Đại học Alger ở Bắc Phi, và ở nhà chắc là chị cũng đã cố sức liên lạc mà không được. Đường dây điện thoại đã bị cắt đứt từ lâu, còn viết thư hai chiều, đi và về thì cho đến nay cả nhà không ai nhận được tin tức gì của bất kỳ một ai là người quen thuộc. Lá thư mà cô bé mong chờ là thư của anh. Phương Vân lúc nào cũng nghĩ đến anh và đôi khi cô bé tự trách mình đã nghi oan cho anh là tơ tưởng đến người khác và đã viết cho anh một lá thư vĩnh biệt, nhưng khi biết anh đã mạo hiểm về để tìm cách đưa gia đình cô bé ra nước ngoài, cô lại thấy anh là người đáng được cô yêu kính và chịu ơn suốt đời. Mỗi lần nghĩ đến anh cô bé lại thấy nước mắt dâng trào vì cô như có linh cảm rằng kiếp này không sao cô lại có thể gặp lại anh nữa.

  Từ khi bố được về nhà, và ông đã có mấy năm doanh thương liên lạc với  Hongkong nên quen thuộc với mấy chủ tịch công ty lớn ở Chợ Lớn và họ đã cho ông cựu sinh viên Luật khoa một chân làm việc trong văn phòng chủ yếu là lo việc thư tín với những công  ty nước ngoài.  Các anh Vũ và Hồng cũng dần dà kiếm được việc dậy học, kèm ngoại ngữ cho những người có nhu cầu vượt biên hay di tản, cũng đủ sống qua ngày. Trong ngành giáo dục của giai đoạn bị kiểm soát bởi Ủy Ban Quân Quản của MTGPMN, tuy họ cũng cần giáo chức dậy toán ở bậc trung học nhưng các anh là người ở chế độ cũ, họ không bao giờ vời đến để dùng với bất kỳ chức vụ gì. Gia đình giờ không còn được ở căn nhà cũ nơi cô bé có một phòng riêng ở trên gác, cửa sổ mở ra phía Đông nhìn xuống một khu vườn xinh sắn. Họ phải chuyển đến một khu ở ngoại ô nơi có nhiều gia đình khác cùng hoàn cảnh. Thêm vào nữa các phố giờ đổi tên, anh có muốn viết thư cho cô bé cũng đành chịu. Phương Vân đã nghĩ như thế, và nhiều lần cô tự hỏi không biết giờ đây anh ở đâu và làm gì. Có ai săn sóc cho anh không?

  Ba năm trời sống trong cơ cực dưới chế độ độc tài cộng sản, người dân luôn luôn bị rình mò theo dõi, đã làm cho Phương Vân cảm thấy như mình già đi rất nhiều. Nhưng hàng ngày soi bóng mình trong gương cô thấy mình vẫn giữ được dáng ngây thơ yêu kiều đã làm cho Phong luôn luôn phải mềm lòng chiều chuộng mỗi khi cô bắt anh làm cho cô điều gì. Nhưng đã 6 năm rồi, từ ngày anh xa nước nhà, cô bé không gặp lại, và từ ngày Quốc Hận tháng Tư 75, cô không còn nhận được tin anh, không ngày nào cô không có lúc thoáng nghĩ đến anh, nhưng chỉ là mơ hồ ảo ảnh vì con người anh là con người của mây và gió, từ ngày biết anh, dù anh nói với cô bé thế nào thực lòng, không lúc nào Mây có thể tự trấn an với mình là anh có thể ở  bên cô mãi mãi. Những năm tháng vừa qua, Bố Mẹ luôn luôn nghĩ cách và tìm phương tiện cho cô có thể ra nước ngoài, cũng không ngoài ý định cho cô gặp lại anh, vì mọi người đều biết rằng Phương Vân không có thể nào để ý đến ai khác hơn là Phong, người như đã chiếm trọn sự thương kính của Mây.

  Sau nhiều lần tìm mối, Bố Mẹ đã thu xếp được cho Phương Vân đi cùng với một gia đình người quen trên một con tầu nhỏ có cô và 35 người đồng hành khác. Sau ba ngày  lênh đênh trên bể, trôi theo giòng nước xuống phía Nam, đoàn người dạt được vào Pulau Bidong, thuộc Mã Lai. Lúc này trên đảo cũng đã có nhiều thuyền nhân, danh xưng để chỉ những người dùng tầu thuyền để rời nước tránh nạn cộng sản. Theo báo cáo của United Nations High Commissioner for Refugees, viết tắt là UNHCR, là Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc cho Người Tỵ Nạn, thì sau ngày 30/4/1975, nhiều người Việt đã dùng phương tiện tầu bè riêng để ra khơi tránh nạn cộng sản. Trong tháng Năm đã có những thuyền nhân đầu tiên dạt vào bờ biển Mã Lai. Khi con số đã lên tới hàng ngàn người, thì phủ Cao Ủy phải can thiệp để cứu trợ và cùng với Hội Lưỡi Liềm Đỏ Mã Lai (Malaysian Red Crescent Society) thiết lập những trại tỵ nạn để tạm thời cư trú thuyền nhân trên đất này  và kêu gọi những nước Tây phương vì lòng nhân đạo mà thu nhận những người tỵ nạn.

  Từ ngày tới đảo Bidong, và chờ đợi ngày được nhận vào một nước khác và hưởng quy chế tỵ nạn, Phương Vân chỉ có một mơ ước được gặp lại anh, dù ước mơ đó chỉ như những lâu đài mà mỗi chiều ngồi một mình sau giờ làm việc trên bãi vắng, nàng đắp trên cát để thấy chỉ một ngọn sóng nhỏ cuộn vào mà đã cuốn trôi đi. Vì có khả năng ngoại ngữ, Phuơng Vân tình nguyện  làm ở Văn phòng Cao uỷ Tỵ nạn để giúp việc điền đơn hay làm thông dịch cho những phái đoàn di trú của các nước đến phỏng vấn thuyền nhân. Những ngày cuối tuần, Phương Vân còn dành trọn buổi trưa để kèm cho các trẻ em trên đảo học đọc và viết chữ Việt. Dù rất bận rộn nhưng nàng cảm thấy đây là khoảng đời có những kỷ niệm tràn ngập niềm vui, đối diện với những khó khăn nhưng nàng thật sự thấy mình già dặn hơn trước. Nay Phương Vân đã ở tuổi ngoài hai mươi nhưng mỗi khi nghĩ đến Phong, cô vẫn muốn được anh để ý đến và cưng chiều như một cô bé năm xưa còn nấp sau lưng mẹ nhìn anh khi anh đến nhà lần đầu tiên. Đã lâu Phương Vân không gửi hình cho anh, và cô biết là về hình thức thì từ ngày anh rời nước, cô đã thay đổi khá nhiều. Nay nếu anh có về nhà chắc không nhận ra ngay Phương Vân là cô bé khi xưa. Còn anh thi theo tấm hình anh chụp để ở trên tờ báo “Thế Giới Tự Do” trông anh không khác khi xưa là mấy. Tấm hình mầu nhưng ánh nắng chiếu sáng nên cô không biết là giờ đây tóc anh đã điểm bạc hay chưa. Anh của cô bé là anh Vũ cũng trạc tuổi anh mà giờ đã có tóc bạc rồi

*************

  Hôm nay Phương Vân đã có một ngày làm việc khá bận rộn, nhưng cô thấy trong lòng gợi niềm vui vì đã hoàn tất được nhiều hồ sơ xin tỵ nạn. Trong những ngày qua cô đã làm việc với nhiều phái đoàn các nước Âu châu và Canada để giới thiệu và đôi khi làm thông dịch viên cho những người đã điền đơn xin tỵ nạn và được phỏng vấn. Phần lớn những người trong trại đều muốn xin đi định cư ở Hoa Kỳ vì họ thường đã có thân nhân sang đấy từ những đợt đầu và gửi tin tức về cho biết sự trợ giúp của chính phủ và qua những cơ quan thiện nguyện rất được chu đáo. Phái đoàn Mỹ họ có nhân viên ngưòi Mỹ da trắng mà nói tiếng Việt rất lưu loát. Những ngưòi này thường là những cựu quân nhân, trước kia phục vụ trong ngành quân báo phải thẩm vấn những tù binh Bắc Việt và đã được học nói và viết tiếng Việt tại Trường Cao Học Hải Quân (Naval Postgraduate School) ở Monterey, bang California. Phương Vân biết được chi tiết này là do Peter Williams, trưởng phái đoàn Canada cho biết.

  Peter cũng là một con người khá đặc biệt. Anh này là một con người cao lớn, vào khoảng ngoài ba mươi tuổi, cũng khá bảnh trai, xuất thân là phi công khu  trục của Royal Canadian Air Force. Sau một thời gian trao đổi thực tập với Royal Australian Air Force tại bản doanh ở Canberra, Úc châu, Peter bị nhuốm một căn bệnh nhiệt đới bác sĩ không truy rõ được căn nguyên, chỉ biết là sau thời gian điều trị, Peter bi sưng màng tai và độ thính thị bị sút giảm và phải nghỉ bay. Anh xin giải ngũ và tình nguyện xung vào phái đoàn Sở Di Trú Canada mới tuyển mộ để sang Mã Lai làm việc, phỏng vấn những người muốn di dân sang nước này. Một phần làm Peter cũng muốn đi xa xứ sở trong dịp này là để quên đi cuộc hôn nhân vừa bị tan vỡ.

  Công việc phỏng vấn của Peter Williams cũng dễ dàng vì những hồ sơ nếu được thiết lập qua tay Phương Vân trợ giúp bao giờ cũng đầy đủ. Trong ba năm ở Sài Gòn, dưới chế độ cai trị khắt khe của cộng sản VN, Phương Vân không thực hiện được mơ ước vào đại học, nhưng khi học Gia Long cô đã chọn  học môn ngoại ngữ và văn chương và cô chọn Anh Văn thay vì theo đa số thanh niên thời bấy giờ chọn Nga ngữ để có dịp dễ dàng xin đi du học. Vì cô biết là muốn vào Canada là nước đang khuyến khích người tới lập nghiệp, chọn những người có khả năng chuyên môn, nên Phương Vân bao giờ cũng khuyên những người nộp đơn nên nêu rõ những tài năng khả dụng của mình và vì thế hồ sơ nào cô đưa lại cũng được phái đoàn của ông Williams chấp thuận. Nhiều gia đình đã biết như vậy nên không để những người khác giúp làm hồ sơ mà cố chờ đợi để có thể tới lượt làm với Phương Vân. Đôi khi họ có cảm nghĩ rằng người Trưởng phái đoàn Canada có cảm tình đặc biệt với cô gái Việt Nam xinh đẹp và vui tính này nên năn nỉ với cô để nói giúp cho hồ sơ của họ được ưu tiên đặc biệt. Đôi khi họ nói thẳng ra:

- Cô nói giúp cho gia đình cháu một tiếng là ông ấy bằng lòng ngay. Chúng cháu biết là ông ấy nể cô lắm!

  Mỗi lần nghe thấy những câu như thế thì Phương Vân lại thấy ngượng ngùng, nhưng cũng có phần vui thích. Đã mấy năm rồi, từ  ngày mất liên lạc với Phong, cô bé có còn ai sẵn lòng chiều theo những ý muốn của mình đâu. Riêng với Peter Williams thì Phương Vân biết là không phải như vậy, vì Peter làm đúng theo luật lệ của Sở Di Trú nước ông. Canada, kể toàn quốc lúc đó có gần 30 triệu người dân trên một diện tích rộng lớn ở phần Bắc Mỹ châu, chiếm tới 9 triệu cây số vuông thành mật độ dân cư thật thưa thớt tính ra mỗi cây số vuông chỉ có trung bình chưa tới 4 người cư ngụ.  Toàn quốc có 10 tỉnh bang được gọi là Provinces và ngoài ra có 3 vùng lãnh thổ gọì là Territories. Những tỉnh sầm uất và có kinh tế vững vàng nhất là Ontario, và Québec ở miền Đông chiếm được già nửa số dân là  62.1 % và sau đó tới British Columbia ở miền Tây với 13.3 % số dân được hơn 4 triệu người. Vì tỉnh BC ở ven Thái Bình Dương nên nhiều dân Á châu di cư tới lập nghiệp và Peter cũng đưa được nhiều thuyền nhân tới vùng này.

  Đã nhiều lần Peter hỏi Phương Vân đến gần như khẩn khoản là tại sao cô không tự mình điền đơn xin vào Canada với tính cách tỵ nạn, nhưng Phương Vân chỉ lắc đầu và nói là cần đợi tin tức của bố mẹ và hai anh trưóc khi quyết định cho mình. Buổi chiều hôm ấy Peter Williams đợi cho Phương Vân làm việc xong với phái đoàn Úc châu rồi mới tới và nói với nàng là hôm nay là buổi làm việc cuối cùng của phái đoàn Canada trên đảo này và sẽ trở lại ba tháng sau với một phái đoàn mới. Còn riêng Peter Williams thì ông cho biết là với tư cách là cựu sĩ quan của RCAF, ông đã được Bộ Ngoại Giao tuyển dụng và gửi đi làm việc tại  sứ quán Canada ở Hoa Thịnh Đốn. Khi báo tin, Peter cũng để ý quan sát thái độ của Phương Vân nhưng, với cô, tuy  thấy buồn vì phải xa một người cô thấy thân qúy trong tình bạn, đã từ lâu cô bé, giờ không còn bé nữa, đã giữ được không lộ cảm xúc của mình ra ngoài. Phái đoàn Canada chiều hôm nay sẽ ăn chung với mọi người trong trại nên Peter mời Phương Vân đến ngồi cùng bàn với mình. Trong bữa ăn, Peter hết sức săn sóc Phương Vân, tự mình đi xếp hàng lấy đồ ăn thức uống cho cô, làm cho cô gái Việt cũng thấy cảm động. Đang ngồi ăn, bỗng nhiên Peter hỏi với giọng ngập ngừng:

- Chắc là vài tuần nữa Vân cũng không còn nhớ đến tên tôi nữa? 

  Nghe như vậy cô gái Việt phải bật cười vì câu hỏi nhiều ý nghĩa của Peter. Hình như anh chàng muốn dò hỏi tình cảm của cô. Như muốn để trêu anh chàng, Phương Vân trả lời:

- Không Peter ạ . Suốt đời tôi không thể nào quên được tên ông. Vì tên ông đã ghi một ấn tượng xâu đậm trong trí não của tôi rồi.

   Ngừng một chút rồi vì không muốn cho Peter hiểu nhầm nên Phương Vân nói tiếp:

- Này nhé! Hôm qua tôi  đã vào thư viện mà may mắn được đọc một cuốn sách nhỏ nói về đặt tên người thì thấy những tên đặt như John, Peter, Jack… là những tên thường hay đặt cho con trai. Thành ra những tên này dễ nhớ. Còn họ Williams của Peter thì cũng nhiều người danh tiếng lắm. Cùng tên Peter Williams thì có Sir Peter Williams là một nhà Vật lý học tài danh, Viện trưởng Đại học Leicester ở Anh Quốc. Trong âm nhạc cũng có giáo sư Peter Williams, chuyên khảo về nhạc sĩ Johann Sebastian Bach. Trong phim “The Bridge on the River Kwai” cũng có một tài tử phụ người Anh  là Peter Williams đóng chung với Alec Guinness. Đó là những người có tên là Peter Williams mà Vân đã biết mà vẫn nhớ mãi.

  Từ ngày gặp và làm việc với Phương Vân, Peter đã đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác và nay đối với chàng thì cô gái thật là một người hiếm có. Từ sự quyến luyến một người có tinh thần phục vụ, sống hồn nhiên để khắc phục những trở ngại trong cuộc đời, nay Peter thấy con người trông mảnh mai này lại là người đáng để ông tâm phục vì sự thông thái hiểu biết của cô. Chàng tiếp lời cô gái:

-  Còn anh chàng Peter Williams này thì quá tầm thường phải không. Với cô tôi chỉ có một tấm lòng tha thiết, mong cho đời sống của cô thật tốt đẹp, xứng đáng với con người cô.

   Phương Vân cúi đầu dấu nét bối rối trước ánh mắt xanh biếc của Peter. Nàng nghe giọng Peter ấm và nhỏ:

-  Would you like to become a Citizen of Canada ?

   Phương Vân lắc đầu và đưa tay vén mái tóc vừa chấm vai giọng chắc nịch:

-  No, I am still waiting for the opportunity to go The United States!

   Peter không dấu sự ngạc nhiên sửng sốt:

-  Do you have family there?

   Phương Vân gật:

-  Yes I do.

  Chỉ một câu ngắn gọn như vậy là Peter đủ hiểu là cô gái Việt đã có một mối liên hệ nào sâu đậm ở Hoa Kỳ khiến cô từ chối tất cả những gì có viễn tượng một đời sống được bảo đảm an bình nếu đi Canada. Hai ngưòi ngồi ăn trong im lặng và cho đến lúc chia tay không nói thêm với nhau một lời nào. Phương Vân cũng thấy lòng ân hận, nhưng thật ra nàng không muốn cho Peter có thêm chút hy vọng gì vì đối với cô, số phận như đã được an bài. Nàng như một con chim bay vẩn vơ trong không gian và theo dấu bay tìm nhau từ thuở, đã gặp Phong, và như theo định mệnh, con chim bé nhỏ tưởng rồi sẽ nuơng vào anh và cùng nhau bay đi khắp bốn phương trời. Hai người nay đã lạc nhau, và Phương Vân tin rằng nếu anh còn nghĩ tới cô bé anh sẽ tìm theo dấu chân chim dù cho nay anh đang bay bổng ở trên cao còn cô vẫn chỉ là con chim bé nhỏ bay truyền từng cành ở dưới thấp. Với Phương Vân, giờ đây hy vọng là lẽ sống của cuộc đời.

  Sáng hôm sau, truớc khi rời đảo, Peter đến chào từ biệt và trao cho nàng một phong bì ngoài có đề chữ “Phương Vân”. Lúc còn ngồi một mình, cô gái mở ra thì ở bên trong có mẫu đơn xin nhập cảnh Canada như di dân tỵ nạn, và Peter đã căn cứ theo hồ sơ cô gái Việt đã khai khi mới lên đảo mà điền vào đầy đủ chi tiết, chỉ còn thiếu chữ ký và ngày tháng phỏng vấn. Bên trong tập hồ sơ có tấm danh thiếp với hàng chữ: 

“Why have you not made a decision for your future? I am ready to open this file for you whenever you need it.  Just give me a  call”

  Ở dưới có đề số điện thoại của Sứ quán Canada ở Hoa Thịnh Đốn, nơi Peter sẽ đến làm việc. Cầm tấm danh thiếp nàng thật cảm động trong đầu thoáng có ý nghĩ mơ hồ. Có khi nào Phương Vân sẽ gọi Peter ở số điện thoại này không? Không lúc nào như lúc này, cô mong chờ được nghe tiếng của Phong. Từ ngoài xa chỉ có tiếng sóng bể nhẹ nhàng vẳng đưa lại, chứ không phải tiếng thầm thì của người anh xa vắng.


***************

  Sau chuyến đi Đài Loan trở về Phong đã sống những ngày dài, khắc khoải trong tuyệt vọng. Chàng không thể ngờ rằng Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam lại xụp đổ mau chóng như vậy. Mấy tháng đầu khi Việt cộng làm bá chủ miền Nam, những tin tức đưa ra đều làm những người quốc gia phải đau lòng. Những cựu sĩ quan QLVNCH đều bị đưa đến những trại giam vô hạn định, bị đầu độc tư tưởng và hành hạ thể xác. Dân chúng thì những người có tiền của bị chiếm đoạt nhà cửa, tài sản, những chuyên gia, cần thiết để xây dựng quốc gia nhưng thuộc thành phần Ngụy cũng bị đưa đi lao động ở những  vùng kinh tế mới. Những người bạn ở Đài Loan cũng đã cố gắng giúp Phong nhưng không được kết quả nào cụ thể. Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, nhờ ảnh hưởng của những doanh thương người Hoa ở Chợ lớn còn được giữ một Toà Lãnh Sự ở Sài Gòn và nhờ vậy Phong còn biết tình hình ở Thủ Đô nay đã bị xóa tên. Đã có một lần Trung Tướng Tần Quang Thanh cử Triệu Minh Bích về sinh quán khi xưa của cô để thân hành tới địa chỉ cũ của Phương Vân thăm dò tin tức, nhưng nay nhà cũng đã đổi chủ, cô không dám hỏi han gì thêm vì sợ gây nghi ngờ, đặc biệt những người được cấp phát những nhà sang trọng như thế này phải là những cán bộ cao cấp.

  Những thầy học cũ và những bạn đồng nghiệp ai cũng muốn Phong trở lại với Toán và Khoa Học là những ngành mà chàng đã tạo được chút tên tuổi. Nhưng muốn làm khảo cứu cần phải chuyên cần, điều mà bây giờ Phong không thể nào làm nổi. Sau cùng chàng đành nhận dậy Toán bán thời gian cho một Trường Đại Học Cộng Đồng ở Cleveland thuộc tiểu bang Ohio. Thì giờ được rảnh Phong tham gia những sinh hoạt cộng đồng và giúp cho những học sinh Việt hội nhập dễ dàng vào xã hội mới. Từ khi được tin thuyền nhân Việt Nam đã vượt bể để đến những bờ biển Thái Lan và Mã Lai và được Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn ở Liên Hiệp Quốc giúp đỡ để định cư ở các nước Tây phương, Phong lại dành nhiều thì giờ để tìm kiếm gia đình Phương Vân. Cách đây vài tháng, nhân dịp nghỉ hè chàng đã đi New York để đến Trụ Sở Liên Hiệp Quốc hỏi thăm tin tức về những trại tỵ nạn ở  Mã Lai, vì chàng có ý định đến tận nơi để tìm kiếm gia đình Phương Vân. Sau một ngày tìm hỏi ở các Văn phòng thuộc Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn, Phong trở về khách sạn Tudor Hotel quen thuộc ở đường East 42 nd Street chỉ cách Trụ Sở Liên Hiệp Quốc ở những đường First và 46 th Street một quãng ngắn đi bộ được. Buổi tối Phong xuống Tudor Neighborhood Bar and Grill ở dưới nhà và tìm một bàn ở trong góc kín đáo gọi một món thịt với ly rượu vang, cũng là một cách dỗ ngủ sau một ngày đi bộ nhiều mệt nhọc. Trong  khi chàng đang trầm ngâm tay cầm ly rượu thì nghe có một giọng nói trong trẻo ở đằng sau:

-  Ô, ông Phong! Ông lại ngồi nhầm vào bàn của tôi rồi!

   Phong quay lại và vô cùng ngạc nhiên khi thấy Hồng Vân đang tươi cuời nhìn chàng. Cũng vẫn là người năm xưa chàng gặp trên chuyến bay từ Denver đi San Francisco, nhưng trông bây giờ người thiếu phụ trông già dặn hơn và cách ăn mặc trông sang trọng hơn. Chàng đưa tay nắm bàn tay mềm mại Hồng Vân đưa ra và nói:

-  Hello người đẹp. Đây đâu phải trên phi cơ United Airlines mà có reserved seat.

-  Nhưng chỗ này là chỗ em thường ngồi ăn buổi tối. Những người hầu bàn ở đây ai cũng biết. Nhưng thôi, em biết anh là người xưa nay muốn gì được nấy. Tranh chấp với anh sao được. Nhưng anh có cho phép em ngồi chung bàn đêm nay không, mà anh là chủ nhé!

   Hồng Vân nói xong rồi không cần Phong trả lòi, nàng ung dung ngồi xuống rồi nghiêng đầu ngắm Phong một hồi rồi mới nói.

-  Trông anh không già đi mấy, dù rằng đã ba năm rồi em không được tin anh. Em vẫn khắc khoải mong chờ.

   Biết là Hồng Vân nói đùa nên Phong cũng trả lời lại:

-  Anh cũng vậy. Anh nhớ em đến nỗi ngày ….

-  Ngày quên ăn, đêm quên ngủ phải không?

  Phong chưa nói hết câu, Hông Vân đã nói tiếp theo và cả hai người cùng cười. Câu chuyện vui lại tiếp theo sau khi Hồng Vân ra hiệu cho người hầu bàn vẫn kín đáo chờ là nàng vẫn ăn món thường ngày. Nàng giở ví tay ra lấy tấm thiệp in chức vụ hiện tại để tự giới thiệu và nói tiếp:

-  Phải đó, em đã làm cho Phủ Cao Ủỵ  Tỵ  Nạn của Liên Hiệp Quốc cũng là  để đi tìm xem anh giờ lang bạt ở nơi đâu. Dạo đó đang lúc Việt Cộng tấn công Sài Gòn thì tự dưng anh bỏ về. Làm em sợ muốn chết. Đây, anh coi ở trên tấm cạc này xem có phải em đã tìm anh đêm ngày hay không?

United Nations High Commissioner for Refugees

                    (UNHCR)

                  Isabelle Truong, JD

                  Counselor

   Phong mỉm cười ngắm nghiá tấm các, cả hai mặt rồi bỏ vào túi áo trong và hỏi Hồng Vân:

-  Anh cứ tưởng em sẽ có thêm một cái họ Mỹ nào sau cái tên của em chứ! Duyên may nào đưa em đến địa vị này?

   Hồng Vân  nhăn mặt ra điều nũng nịu của một cô bé thơ ngây:

-  Hứ, anh cứ nói khích em hà.  Nếu muốn thì người ta đã có từ lâu. Em làm việc này đã ba năm rồi và sắp hết hạn để về nước.

   Cách nói của nàng như ngụ ý cho Phong biết rằng không có một chàng Mỹ nào có thể làm xiêu lòng mình. Phong laị rút tấm các ra đọc lại chức vụ của Hồng Vân. Như hiểu sự thắc mắc của Phong, Hồng Vân nói tiếp:

-Từ ngày gặp anh ở Berkeley và không thuyết phục được anh về Washington để tăng cường cho phái đoàn sang xin viện trợ vào giờ thứ hai mươi lăm, em đã có ý định xin thôi việc làm ngoại giao thì chỉ hơn một tuần lễ sau là ông Dương Văn Minh xin đầu hàng. Ông Đại sứ cho hội các nhân viên lại và cho mỗi người hưởng hai tháng lương rồi tuyên bố đóng cửa sứ quán. Em còn giữ quốc tịch Pháp nên đến Toà Đại sứ Pháp để xin thiết lập giấy thông hành mới và lấy lại tên Isabelle là tên trên các bằng cấp ở Montpellier của em. Vừa lúc ấy thì em được biết là Liên Hiệp Quốc tuyển người làm việc cho Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn và em xin với tính cách là kiều dân Pháp và tình nguyện đi Mã Lai. Em sang đấy làm việc cho đến nay đã gần ba năm rồi. Cứ mỗi 6 tháng em phải về đây một lần để làm báo cáo và được phép nghỉ 2 tuần.

   Nói xong Hồng Vân nhìn Phong và cười rất duyên dáng:

-  Theo lệ ở Liên Hiệp Quốc thì mình được về nghỉ phép ở quê nhà đi cả gia đình. Thật tiếc nếu anh là … là …của em thì anh được chuyến đi chơi sang Pháp vói em do Liên Hiệp Quốc đài thọ.

-  Cám ơn mỹ ý của em. Nhưng anh sợ họ lại truy nguyên quán của em mà bắt anh phải tháp tùng em về Việt Nam để nghỉ hè với với quân cướp nước thì anh không chịu được.

   Phong nói xong rồi cả hai người cùng cười. Từ ngày gặp Phong, tuy chỉ nói chuyện với nhau vài lần nhưng Hồng Vân thấy mình như trở lại thời ấu thơ, vui sống với cha mẹ trên đồn điền cao xu ở Lộc Ninh. Càng thấy thân cận với Phong, và cảm phục vì trí tuệ và đức độ của con người mói gặp, Hồng Vân lại càng thấy giữa hai người có một khoảng cách, một bức tường ngăn chặn, thật Hồng Vân không hiểu vì sao. Nhớ lại khi xưa, lần đầu tiên biết đến Phong là khi nàng đang là sinh viên luật khoa ở Đại học Montpellier thì thấy báo Pháp nhắc đến một kỹ sư Việt Nam tốt nghiệp Polytechnique, đang làm cho Hãng Sud Aviation, và bay thử nghiệm loại phi cơ Caravelle thời ấy. Lúc đọc đưọc tin ấy, Hồng Vân thấy con người này xa vời quá và tuổi tác chắc vào hàng chú bác nên không nghĩ có ngày được gặp. Nhưng đến lúc được coi hồ sơ của Phong ở Phòng Kiều Vụ sứ quán thì thấy Phong chỉ hơn mình chừng 6 hay 7 tuổi mà thôi. Nhưng qua mấy lần gặp nhau, nàng vẫn thấy như con người này có tâm sự gì riêng biệt, tuy rất lịch thiệp nhưng hình như không muốn thân thiết với ai. 

Sau bữa ăn, Hồng Vân cầm chiếc thìa bạc gõ vào đĩa bánh như để lấy sự chú ý của Phong và hỏi:

-  Hotel này thường là để cho những người có việc tới United Nations ghé lại. Như anh, có việc gì mà lại đây? Sao anh biết em ở đây mà tìm?

  Câu hỏi, tuy rằng Hồng Vân nói đùa nhưng trong thâm tâm nàng cũng ước ao có người vì mình mà đi tìm. Phong đã đi một ngày ở khu Cao Ủy Tỵ Nạn, suốt từ phòng nọ đến phòng kia nhưng không được một kết quả gì cụ thể vì ở đây người ta chỉ lưu  trữ những dữ kiện như số người tỵ nạn, đến từ nước nào, hiện cư ngụ nơi đâu, nhưng không có danh sách cá nhân. Nay tình cờ gặp lại Hồng Vân  là người trong cuộc nên chàng nghĩ thật là may mắn nên đưa ngay cho nàng lý lịch gia đình Phương Vân gồm bố mẹ và ba người con Phong đã mang theo sẵn nhiều bản trong túi. Những người lớn thì chàng chỉ đề tên họ và tuổi phỏng chừng, cùng căn bản học lực và nghề nghiệp sở dụng, chỉ riêng cô bé thì Phong có chi tiết rõ ràng. Hồng Vân ngồi chăm chú đọc và nàng biết ngay là cô gái có tên gần giống tên nàng là Phương Vân chính là chủ đích sự đi tìm này của Phong. Hồng Vân  bỗng sực nhớ ra ở trên đảo cũng có một cô gái bé nhỏ xinh sắn, cũng có tên là Phương Vân, hay làm công việc thiện nguyện và  nàng cũng đã gặp và hỏi han mấy lần, nhưng cô gái này đi một mình không có ai là thân thích. Nghĩ vậy, Hồng Vân gấp tờ giấy làm đôi để bỏ vào trong bóp và nói với Phong:

-  Em sẽ cố gắng giúp cho anh, nhưng cũng còn tùy ý Trời vì có hàng chục ngàn gia đình thuyền nhân nay phân tán đi khắp nơi. Xem bộ không tìm được họ thì anh không thể thấy an bình trong cuộc sống hay sao?

  Phong không trả lời và chàng quay mặt nhìn sang phòng bên nơi để uống rượu, có nhiều cặp đang ngồi nói chuyện dưới ánh đèn mầu hồng nghe tiếng nhạc dập dìu. Lúc này  chàng thật nhớ cô bé, và mơ ước được nhìn thấy lại hai bím tóc thắt nơ màu ngọc bích của cô bé lắc lư trên bờ vai nhỏ, ánh mắt thơ ngây và ngỡ ngàng của tuổi tròn trăng. Chỉ có bấy nhiêu mà đã làm Phong ngây ngất nhiều năm. Chàng biết mình yêu cô bé thật tình nhưng không thể nào cưỡng lại số phần khi chàng cứ luôn gặp lại Hồng Vân và cảm thấy ít nhiều quyến luyến với con người học thức, tháo vác và đầy quyến rũ này. Họ ngồi với nhau khá lâu trong phòng ăn với bao nhiêu chuyện mới và cũ. Hồng Vân hồn nhiên nói cười còn Phong lắng nghe nhiều hơn nhưng chính bởi phong độ trầm lặng đó mà con người bản tính kiêu kỳ và lạnh lùng của Hồng Vân chợt thấy chùn xuống. Như để đưa lại chút ấm lòng cho buổi hội ngộ lần này, cô gái đề  nghị:

-  Em hứa sẽ tìm cho bằng được  gia đình cô bé đó cho anh, nhưng tối hôm nay anh phải chiều Isabelle mà sang bên Bar uống rượu và nghe nhạc cùng với em. Anh chịu điều kiện đó không?

   Tự dưng cô gái không thích dùng tên Hồng Vân nữa vì cô thoáng có ý nghĩ là tên Vân có nghĩa là Mây đó đã thuộc về một người khác rồi. Phong cũng ký vào giấy ăn mà người hầu bàn đã kín đáo đưa lại, đề số buồng để nhà hàng tính tiền chung vào khách sạn và đưa tay cho Isabelle khoác để bước sang phòng bên uống rượu của Bar and Grill. Khi hai người đã gọi rượu và ngồi nghe nhạc êm đềm vẳng lại, thì bỗng nhiên Isabelle nắm lấy bàn tay cầm ly rượu của Phong và nói:

-  Anh có nghe không, đây là tiếng hát của Adamo, anh phải nhẩy với em bài này.

   Phong cũng thích những bài hát của Salvadore Adamo, một ca nhạc sĩ người Bỉ nhưng gốc Ý, và bắt đầu nổi danh khi chàng đang còn ở  Pháp. Chàng đứng dậy, ôm ngang lưng Isabelle đưa ra giữa phòng, lúc đó cũng có vài cặp đang dìu nhau chậm chạp theo nhịp slow của bài hát. Isabelle ngả đầu vào vai Phong và thầm thì:

-  Em rất thích bài này. Vì em nghĩ lời ca nói đúng tâm trạng của anh bây giờ. Anh hát theo đi.

   Để chiều ý Isabelle, người mà Phong đặt hết niềm tin bây giờ để tìm ra Phương Vân cho mình, chàng khẽ hát theo, một bài khá quen thuộc mà trước kia đã có lần chàng dịch ra tiếng Việt

J’aime

J'aime, quand le vent nous taquine                      

Quand il joue dans tes cheveux                            

Quand tu te fais ballerine

Pour le suivre à pas gracieux                               

J'aime quand tu reviens ravie                               

Pour te jeter à mon cou

Quand tu te fais petite fille

Pour t'asseoir sur mes genoux

J'aime le calme crépuscule

Quand il s'installe pas de loup

Mais j'aime espérer crédule

Qu’il s'embraserait pour nous

J'aime ta main qui me rassure

Quand je me perds dans le noir

Et ta voix est le murmure

De la source de l'espoir

J'aime quand tes yeux couleurs de brume

Me font un manteau de douceur

Et comme sur un coussin de plume

Mon front se pose sur ton coeur

Tiếng Isabelle vẫn ngọt ngào bên tai Phong :

-  J’aime, có nghĩa là tôi yêu phải không ? Như thế là anh yêu hay là em yêu ?

   Phong nghe rõ từng câu và cũng nghe thấy nhịp thở dồn dập của cô gái. Chàng trả lời một cách mơ hồ:

-  Adamo viết bài này nhiều người thích vì dùng cho tất cả những ai biết yêu.

   Isabelle nói dọng nũng nịu:

-  Thế à anh. Những câu sau em không hiểu gì cả. Anh nói bằng tiếng Việt cho em nghe đi. Hay anh dịch những câu anh thích cũng được.

   Phong đành chiều ý con ngưòi mà chàng biết là mình sẽ chịu ơn. Chàng không thể tưởng tượng được một cô đậu tiến sĩ Luật khoa từ Đại Học Montpellier mà không hiểu được một câu viết bằng tiếng Pháp. Nhưng bây giờ thì cô nàng muốn bắt gì Phong cũng phài chiều. Chàng đọc một vài câu dịch thoát ý:

Anh yêu khi ngọn gió lùa,       

Gài trên mái tóc vui đùa với em.

                   ….

                   ….

Anh yêu cô Bé ngây thơ

Ngồi lòng anh kể vu vơ chuyện đời.

                   ….

                   ….

Anh yêu tiếng nói thì thầm

Là nguồn hy vọng cho tâm rạt rào.

 

- Cám ơn anh đã nói cho em biết. Anh yêu cô Bé lắm phải không?

  Một lần nữa Phong không trả lời vì chàng hiểu câu hỏi và Isabelle cũng biết câu trả lời. Chàng thấy đầu Isabelle ngả nặng chĩu trên vai mình. Người cô gái như bất động để tùy cho cánh tay chàng dìu đi theo điệu nhạc. Isabelle giờ như đã sang một thế giới khác.  Trong cuộc đời nặng đấu tranh, sống ở xứ người từ ngày tai biến xẩy ra cho gia đình, tuy được bố mẹ nuôi thương yêu, săn sóc và cho ăn học, nhưng mình phải tự lực tạo lấy sự nghiệp, Isabelle giờ lại chỉ muốn trở thành một cô bé ít tuổi chưa thành danh, nhưng lại có được một người thương yêu chân thành. Lần đầu tiên cô gặp được một chàng trai cùng xứ sở chiếm trọn được tình cảm mến phục của mình. Nhưng Isabelle biết Phong là người của cô bé xinh sắn, cũng tên là Vân, vui tính hay giúp đỡ người, mình đã gặp và để ý đến trên đảo. Cô gái thấy hận mình đã sinh nhầm thế kỷ.


*******************

  Hôm nay không phải là lần đầu tiên Phuơng Vân bước vào Văn Phòng Đại Diện của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc cho Người Tỵ Nạn. Văn phòng này là mấy căn buồng riêng biệt đặt ở trong Trung Tâm có các phái đoàn phỏng vấn, nơi mà những thuyền nhân ai cũng biết và thường lui tới. Một số nhân viên, không nhiều lắm, làm ở nơi này, họ đều là ngưòi da trắng và ở đủ mọi quốc tịch nhưng cùng làm cho Liên Hiệp Quốc. Ở ngay trên cửa ra vào của Trung Tâm có biển kẻ chữ xanh The UN Refugees Agency  và ngay ở dưới  có chữ viết tắt UNHCR  và có vẽ Logo của Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn hình có hai bàn tay đang che trở cho người tỵ nạn và có hai nhánh lúa đặc trưng của Liên Hiệp Quốc. Những người trên đảo vì không có dịp tiếp xúc trực tiếp với văn phòng này nên không hiểu nhiệm vụ của ban đại diện đối với những người tỵ nạn. Nhưng có điều chắc chắn là những phái đoàn phỏng vấn có thể vắng mặt một hai tuần hay có khi môt vài tháng trườc khi họ trở lại nhưng văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn thì không thể nào đóng cửa nghỉ quá một tuần vì nơi đây là nơi quản lý nguồn tài trợ, kinh phí để chi dùng cho trại và trả lương nhân viên.

  Cho đến nay, ngoài những người làm việc cơ bản cho những trại tỵ nạn trên đảo, những thuyền nhân như Phương Vân đều làm việc tình nguyện, không nhận thù lao. Tuy vậy, một số ít người có khả năng đặc biệt đã được tuyển dụng để làm việc trực tiếp cho Văn Phòng Cao Ủy. Người lo việc tuyển dụng này là Cô Isabelle, một thiếu phụ người Việt trông còn trẻ và có dáng điệu sang trọng của một người có địa vị trong xã hội. Văn phòng của cô ở kế ngay văn phòng của ông giám đốc là người đại diện cho Cao Ủy để trông coi cả mấy trại tỵ nạn trên đảo. Phương Vân đã gặp Isabelle một vài lần, thường thì đều do Isabelle có việc đi qua đã dừng lại chỗ cô bé làm việc để nói mấy lời hỏi han và khuyến khích. Có một lần khi Phương Vân đang làm thông dịch cho phái đoàn Úc châu thì thấy Isabelle lại chỗ phỏng vấn của phái đoàn Canada và nói chuyện rất lâu với Peter Williams, đôi khi ngước mắt nhìn về phía này. Phương Vân thấy thắc mắc vì nghĩ là họ nói chuyện mình, và hôm sau gặp Peter cô cũng không dám hỏi, nhưng thấy thái độ của Peter cũng như thường nên cô cũng yên tâm. Tuần lễ sau đó, Isabelle đi vắng mấy tuần, lúc trở về làm việc cô dừng lại bàn của Phương Vân và đưa cho cô bé một gói quà và nói:

- Chị về Mỹ có công việc, có quà này cho em. Chị mua cỡ nhỏ chắc em mặc vừa.

   Phương Vân ngần ngại không muốn nhận, nhưng sợ làm phật ý một người mà cô nghĩ là ở Trại ai cũng kính nể nên chỉ lí nhí nói mấy câu cám ơn. Isabelle trước khi trở về phòng đã vuốt mớ tóc đen óng của cô bé mà nói:

- Không có chi mà em phải cám ơn. Chị cũng có việc muốn nhờ em. Sáng thứ Hai tới vào khoảng 10 giờ sáng em lại văn phòng chị để bàn việc nhé. Em có bận làm gì không?

  Sáng thứ Hai, Phương Vân đã đến khu có văn phòng Đại Diện Cao Ủy sớm một chút nên không gặp ai để hỏi. Cô đang ngơ ngác nhìn quanh thì nghe tiếng của Isabelle ờ ngay sau lưng:

-  Hi! Em Vân, đến đã lâu chưa? Vào đây nói chuyện với chị. Cùng với Isabelle đưa lại một mùi nước hoa thơm sang trọng cùa loại đắt tiền thành một thứ xa sỉ đang tràn ngập vào sự khô khan nghèo khổ của chốn nầy. Cô vui vẻ mở cửa buồng mời Phương Vân vào, ngồi trên một trong hai chiếc ghế để trước bàn làm việc. Trong khi Isabelle cởi áo veste ngoài để treo lên mắc, Phương Vân có dịp ngắm đến những đồ bày biện nhiều thứ lạ mắt trong căn phòng chứng tỏ chủ nhân đã đi du lịch nhiều nơi. Khác với những phòng làm việc của những giám đốc đã lớn tuổi mà Phương Vân đã có dịp vào, trong phòng giấy của Isabelle, cô không thấy để hình ảnh nào của gia đình, chứng tỏ rằng cô gái này còn sống độc thân và có lẽ sống xa gia đình bố mẹ anh chị em cũng đã lâu. Trước khi ngồi vào ghế, Isabelle bấm vào nút điện của một bình máy và nói:

-  Em uống với chị một tách cà phê nhé!

-  Vâng xin chị.

   Phương Vân lên tiếng trả lời, nhưng thầm nghĩ là Isabelle tuy mời mà như ra lệnh. Tại sao cô ấy lại biết là mình cũng quen uống cà phê?

    Văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn cũng như những phòng khác trong Trại không có máy điều hoà không khí, nhưng cửa phòng mở rộng ra phòng lớn nơi có những bàn phỏng vấn của các nước muốn thâu nhận người tỵ nạn nên cũng hưởng được làn không khí trong lành buổi sáng của Vịnh Thái Lan đưa vào. Isabelle tuy người dong dỏng cao, dáng Tây  phương nhưng cử chỉ rất khả ái. Cô đưa tách cà phê cho Phương Vân và chuyển cả hộp đường sang cho cô bé. Vừa lúc đó thì có chuông điện thoại reo. Cầm lấy ống nghe để trên bàn, vừa thấy tiếng người ở đầu dây kia, Isabelle đã reo lên vui mừng:

-  Hi Anh Phong! Comment vas-tu?

   Người thiếu phụ sau đó nhìn Phương Vân, nheo mắt ra hiệu là có điện thoại quan trọng xin cô bé kiên nhẫn để nàng nói cho xong chuyện. Isabelle nói một hồi bằng tiếng Pháp, tuy Phương Vân không hiểu hết từng lời từng câu nhưng cũng biết là Isabelle cũng rất thân tình với người cũng có tên là Phong ờ đầu dây kia và khi cô hỏi ngưòi bạn đã sắp  sửa ăn cơm tối chưa thì cô bé cũng đoán đuợc là cú điện thoại được gọi từ Mỹ Quốc, với nơi đây ban ngày thành ban đêm, rất có thể từ Văn phòng Cao Ủy và anh chàng Phong có thể là Chef của Isabelle hay là bạn đồng nghiệp vì phần sau thấy Isabelle nói nhiều chuyện về các phái đoàn phỏng vấn trên đảo. Sau câu chuyện, Isabelle quay trở lại khoe vói Phương Vân, nói ríu rít như không dấu được nỗi vui mừng, cô nói bằng tiếng Anh lại chen tiếng Việt.  

-  Darling! You have to meet this person, he is quite a guy. Anh ấy thân hành tới Văn Phòng Cao Ủy Tỵ Nạn ờ New  York để nhờ tìm một gia đình còn ở Việt Nam hay cũng có thể đã ra được nước ngoài. Gia đình có 5 người, gồm bố mẹ và 3 ngưòi con, 2 trai và 1 gái. Chị đã hứa giúp cho anh ấy và tuần này chị sẽ đi hỏi ở tất cả các trại ở Mã Lai xem có tin tức gì không.

   Nghe Isabelle nói, Phương Vân nghĩ thầm: “Không biết anh Phong của mình có chịu làm như người này hay không, hay thì giờ của anh ấy nay để dành cho người khác rồi”. Cô bé cầm tách cà phê lên nhưng như thấy nghẹn không uống nổi. Mỗi lần nghĩ đến anh là cô lại thấy có gì như nghẹn ở trong cổ, và lần này cô nghĩ là mình không có diễm phúc như Isabelle là cũng có người tên Phong, thỉnh thoảng gọi điện thoại hỏi thăm, dù chỉ để nhờ công việc. Câu hỏi của Isabelle đưa Phương Vân trở lại với mục đích của buổi viếng thăm:

- Chị có việc cần em làm ở đây, không phải là thiện nguyện nhưng là một nhân viên của Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn. Số thuyền nhân ngày một lên cao nên Liên Hiệp Quốc đã tăng ngân khoản để lập thêm hai trại nữa ở Mã Lai, và công việc hành chánh sẽ do Văn Phòng Cao Ủy ở đây điều hành. Phần vụ của chị cũng nặng nhọc hơn nhưng chị sẽ được thêm nguời giúp việc. Nếu em có thể giúp được thì em sẽ làm công việc của một administrative assistant, sẽ được trả lương hậu.

   Isabelle nói một hồi rồi dừng lại, thời gian như để Phương Vân nghĩ ngợi xem có nhận công việc hay không. Rồi coi sự im lặng của cô bé như là sự ưng thuận, Isabelle nói tiếp:

-  Em đưa thẻ ghi tên cho chị xem nào.

  Sự thực thì từ lúc cầm tách cà phê của Isabelle đưa cho mà uống không nổi, Phương Vân như người đang trải qua một cơn mê hỗn loạn. Sự việc đến một cách dồn dập làm cô bé không có thời giờ suy nghĩ. Một người nào cũng tên là Phong nói chuyện với Isabelle, và là người mà cô gái sang trọng và học thức này phải khâm phục, hẳn không phải là người thường mà hình như họ cũng đang ở bên Mỹ như anh. Nếu là anh Phong của cô bé thì khi gặp Isabelle, một người mà cô nghĩ là với tuổi đời, học vấn và kinh nghiệm chắc thích hợp với anh  hơn, thế nào anh cũng phải có tình cảm quyến luyến. Nghĩ đến vậy cô bé lại thấy như đau nhói trong tim. Và cô lại nghĩ, nếu thật là anh, mà Phong còn đi tìm gia đình cô bé thì thực là anh còn nghĩ đến mình mà anh quen Isabelle chỉ là để nhờ công việc. Như một cái máy, Phương Vân mở túi sách tay tìm tấm cạc đã được cấp khi vào trại để đưa cho Isabelle. Trên tấm cạc có in hàng chữ ở trên cùng là United Nations High Commissioner for Refugees (UNHCR) và phía dưới có dòng chữ Displaced Persons Registration Card  và tên của cô bé được ghi là  Phương Vân Nguyễn. Isabelle làm việc rất nhanh nhẹn. Tay cô ghi lại tên của Phương Vân trên giấy và vẫn tiếp tục nói chuyện:

- Em có lẽ rồi đây phải chọn một cái tên Mỹ để gọi cho tiện. Chị cũng tên là Vân, nhưng là Trương Hồng Vân, tên trên khai sinh. Còn Isabelle là tên bố mẹ nuôi người Pháp đặt cho, chị vẫn dùng tên này để đi học. Công việc của em ở đây là giúp chị xếp lại giấy tờ, chi tiêu riêng biệt cho từng trại. Mỗi lần chị đi vắng thì nghe điện thoại dùm cho chị. Chị sẽ cho kê một bàn giấy cho em ở cạnh đây, để ngày mai em có thể bắt đầu làm việc.

  Nghe Hồng Vân nói, cô bé chỉ biết lí nhí cám ơn. Cô cũng không biết là rồi đây khi có việc thường trực như thế này thì đời sống hàng ngày của cô trên đảo sẽ ra sao nhưng sau đó Isabelle đã cho biết tỷ mỷ đã dàn xếp chương trình cho Phương Vân như thế nào. Cô bé sẽ cùng đi ăn với những nhân viên làm ở Văn Phòng Cao Ủy, có phòng ăn riêng và hàng ngày trả bằng phiếu ăn. Những người khác thì phải mua những phiếu ăn này mỗi đầu tháng nhưng riêng Phương Vân thì Isabelle đã mua sẵn cho cả hai người vì cô có qũy riêng chi tiêu cho văn phòng. Isabelle cũng sẽ giúp cho Phương Vân mau chóng được định cư ở Hoa Kỳ hay Gia Nã Đại, và sau khi có giấy tờ  cũng sẽ giúp cho Phương Vân được tới định cư ở một nơi có nhiều phương tiện trau dồi kiến thức để có một đời sống phong phú trên nước người.

  Chiều hôm đó trước bữa ăn tối, Phương Vân ra ngoài bãi biển tại khu C ở đảo Bidong, nơi cô vẫn thường ngồi để nghe sóng bể vỗ rì rào những chiều  êm lặng. Cô nhớ lại rằng Isabelle đã hỏi cô tỷ mỷ về gia đình, và nói là để giúp cô khai báo trong trường hợp định cư ở Hoa Kỳ có thể bảo lĩnh cho cả những người thân ruột thịt như bố mẹ và anh em. Tự nhiên cô bé có linh cảm rằng Isabelle muốn tìm hiểu xem gia đình của Phương Vân có phải là gia đình người bạn cô muốn tìm hay không. Nếu đúng như vậy thì có thể anh Phong của cô giờ đã là người thân của Isabelle. Bỗng nhiên hai dòng lệ từ từ chẩy trên má của Phương Vân khi cô nghĩ rằng rồi đây ân nhân của cô và cũng là người mà cô tuy mới gặp mà đã có lòng qúy mến sẽ là người rồi đây lấy đi nguồn hạnh phúc trong đời của mình.

  Buổi chiều xuống chậm, và từ phía trại có tiếng loa phát lên phá tan sự yên tĩnh của mọi người. Nhưng âm thanh này là một niềm hy vọng cho nhiều người, vì là lời phát thanh của Ban Thư Tín thông báo các thuyền nhân có tên đọc lên ban để nhận thư và quà. Đã từ lâu, Phương Vân không còn chú ý theo dõi những tin tức của Ban Thư Tín, vì cô không còn chờ đợi tin tức của bất kỳ ai nữa. Cô thường nghĩ là không còn ai đoái hoài đến mình.


*********************

  Isabelle đã thu thập được tất cả những tin tức vể gia đình của Phương Vân và cô Bé đúng là người mà Phong đang đi tìm. Nàng đã dùng tất cả những thông minh, tháo vác cuả một người đã có hai năm trong ngành ngoại giao và ba năm làm ủy viên cho Cao Uỷ Tỵ Nạn tại Liên Hiệp Quốc, với linh cảm bén nhậy của một phụ nữ và sự hiểu biết của một luật gia chuyên về Liên Hệ Quốc Tế, Isabelle đã thu thập được một hồ sơ đầy đủ về đời sống hiện tại và nơi cư trú của tất cả mọi người trong gia đình của Phương Vân. Tuy đời sống những người ở trong nước còn khó khăn nhưng nói chung thì mọi sự đã tạm ổn định. Sau một thời gian ngắn đi tù về mà những người cầm quyền gọi là đi học tập cải tạo, ông cựu quận trưởng là chủ gia đình đã đuợc trả tự do, và họ đã dời về ở khu Bàn Cờ trong một con hẻm chật chội không ngăn nắp, còn Vũ và Hồng thì đi kèm học, chủ yếu là dậy Anh văn vào buổi tối cho những gia đình có điều kiện. Những thay đổi ban đầu thật sự đã kéo xuống những niềm vui của gia đình họ, rồi ông bố mới đây bị bệnh và từ trần. Suốt ba tháng liền Isabelle đã làm công việc sưu tầm này, qua sự giúp đỡ của nhiều sứ quán ngoại quốc, những lần nàng phải điện thoại sang Hoa Kỳ cho Phong hay cho Peter Williams, cô đại diện Cao Ủy thường đợi giờ buổi chiều tan sở, cho Phương Vân về trại rồi mới liên lạc, lúc đó thường thường là buổi sáng duới trời Mỹ châu. Khi thấy Isabelle hỏi về hồ sơ xin được phỏng vấn, Phương Vân đã đưa ra tất cả những gì Peter Williams đã làm hộ, nên từ đó mà mọi sự đều thông suốt. Không những Peter, theo lời chỉ dẫn của Isabelle, đã xin được cho Phương Vân sang Canada như là một ngưòi tỵ nạn chính trị mà gia đình cô bé cũng sẽ được huởng đặc ân này. Isabelle đã mồ côi cha mẹ khi còn nhỏ tuổi, giờ gặp Phương Vân, cô bé xinh sắn dễ thương, mà cô coi như là một nguời em gái lúc nào cô cũng mong ước được có, cô không muốn Mây phải chịu hoàn cảnh như mình trọn cuộc đời cô quạnh. Giờ đây Isabelle chỉ tha thiết mong sao làm cho xong ước nguyện, để cho Phương Vân về với Phong, người cô thầm yêu qúy, nhưng biết là không bao giờ có đuợc vì số phần mình trong cuộc đời đã không cho được gặp khi tuổi tròn trăng.

  Khi được Isabelle cho biết đã tìm được Phương Vân, Phong nôn nóng muốn bay ngay sang đảo để lo giấy tờ xin sang tỵ nạn ở Hoa Kỳ cho cô bé nhưng với kinh nghiệm là Counselor at Law của Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn, Isabelle đã thuyết phục được Phong hãy để cho cô và Peter lo giấy tờ cho Phương Vân, và cả gia đình, sang Canada cho được dễ dàng. Trên mặt pháp lý, Phong không có liên hệ quyến thuộc gì với Phương Vân. Mặt khác hiện nay sự giao thiệp giữa Hoa Kỳ và Cộng sản Việt Nam chưa được bình thường. Hơn nữa, từ nhiều năm qua, trong Ủy Hội Quốc Tế kiểm soát Hiệp ước đình chiến năm 1954, cộng sản miền Bắc đã nhiều lần phải nhờ phái đoàn Ba Lan vận động với phái đoàn Canada để có những quyết định thuận lợi cho họ nên theo sự góp ý của Isabelle, sự can thiệp của Peter Williams, lúc này là nhân viên ngoại giao của Sứ quán Canada ở Hoa Kỳ sẽ hữu hiệu hơn nhiều. Isabelle cũng đã vài lần dùng dây điện thoại ba chiều để cùng nói chuyện với Phong và Peter và đi đến thoả thuận là cô và Peter sẽ vận động để cho Phương Vân được sang Canada với tính cách tỵ nạn cộng sản và hưởng ngay chế độ thường trú và sau đó Mây có thể xin cho gia đình từ Việt Nam sang đoàn tụ. Peter nghĩ rằng cô bé có thể sang ngay trong tháng sau và tới cư ngụ ở Toronto, thuộc Ontario, là một tỉnh văn học lớn và có nền thương mại sầm uất. Nơi đây Peter có quyến thuộc có thể tìm một cơ quan bảo trợ giúp đỡ cô bé lúc đầu và tìm cho cô một công việc dậy những lớp mẫu giáo. Chuyện đoàn tụ gia đình có thể mất chừng từ 3 đến 9 tháng. Còn chuyện đưa cả gia đình sang sinh sống ở Hoa Kỳ thì là phần vụ sau này của Phong phải lo. Hiện nay chàng đang ở Cleveland, ở bờ phía Nam của Hồ Erie, sang Toronto là tỉnh Canada ở trên Hồ Ontario, giáp giới với Hồ Erie, lái xe qua thác Niagara chỉ mất gần 5 giờ, chưa đầy 300 dặm. Nhưng đối với Phong bây giờ thì 3 ngàn dặm hay chỉ 3 trăm dặm thôi, thì con đường cũng quá xa với chàng, tuy vậy Phong vẫn phải gắng chờ đợi vì đã hứa với Isabelle và Peter, tất cả đều hết lòng để lo cho cô bé cho mọi việc được chu toàn. Con người khi đã tương tư ai thì quên cả khái niệm về thời gian và không gian. Chàng không còn nhớ là từ đại dương xa cách, cả khoảng Thái Bình Dương rộng lớn trước kia hai người xa nhau, mà nay chỉ còn vài tuần nữa thôi họ sẽ chỉ còn một mặt hồ phẳng lặng để phân chia đôi ngả, lo gì không có chuyện vui vẻ trùng phùng. Một phút chờ đợi cô bé, đối với Phong giờ thấy dài như một thế kỷ. Qua Isabelle, Peter đã được biết là Phong, người chàng đã liên lạc điện thoại vài lần, chính là người ở Hoa Kỳ mà Phương Vân mong đợi. Và Isabelle cũng đã biết rằng đối với Phong, lòng chàng chỉ có hình ảnh cô bé ngự trị mà thôi.

*********************  

Từ ngày đoán biết được Phong là bạn thiết của Isabelle, Phương Vân như người bị thu hết hồn vía. Hàng ngày, tuy sống dưới sự che chở và săn sóc của cô xếp lớn tuổi nhưng dịu dàng khả ái, Mây vẫn cảm thấy như bị dằn vặt giữa thương và hận. Trong đầu óc của cô bé hiện ra nhiều ý nghĩ, và cô cho rằng Phong đã tìm thấy người lý tưởng ở Isabelle, từ tuổi đời đến học vấn, từ hình đến dáng, điều gì cô cũng thua kém con người cô phải tiếp xúc hàng ngày. Trong trí não thơ ngây của Phương Vân, cô thầm nghĩ rằng cô xếp muốn cho mình chóng đi định cư ở Canada để không còn gặp lại Phong, giờ chắc đang chờ ngày trở về Hoa Kỳ của Isabelle. Nhưng thật tình cô bé không có thể lấy điều gì để trách cứ Isabelle cả. Chính nàng đã thân hành đi cùng với Mây tới gặp phái đoàn phỏng vấn Canada, và cũng sẵn có lời gửi gấm giới thiệu của Peter Williams, nên sự việc đã tiếp diễn ra một cách tốt đẹp. Ở Trại đã làm giấy má để trong tuần lễ tới cô bé rời đảo lên đường đi Canada. Phương Vân cũng được Isabelle cho biết là nàng đã mãn nhiệm kỳ và tuần tới cũng về Hoa Kỳ, và rất có thể nàng trở về sinh sống ở Pháp. Phương Vân nghĩ thầm có lẽ vì Phong muốn trở về Pháp là nơi khi xưa anh có nhiều kỷ niệm vui như là một sinh viên mà Isabelle cũng chiều ý chàng mà bỏ công việc tốt đẹp ở United Nations. Cô bé thấy buồn da diết trong tâm hồn vì hai người mà từ đây cô sẽ coi như là những người xa lạ, lại là những ngưòi để lại những kỷ niệm xâu đậm trong cô.

  Hôm nay Phương Vân đến văn phòng để thu xếp hết giấy má cho vào những thùng giấy như Isabelle đã dặn cô làm trước khi đi. Cô Xếp đã rời đảo ngày đầu tuần, trước sự quyến luyến của mọi người vì trong những tháng vừa qua Isabelle đã đưa lại một hình ảnh trẻ đẹp và khả ái với mọi người. Trước khi đi, Isabelle cũng đã ôm lấy Phương Vân để hôn nàng và hẹn là sẽ tới Toronto thăm cô bé vào tháng tới. Cô bé đã khóc nước mắt ràn rụa vì dù sao thì Isabelle cũng đã là một người chị lớn yêu thương của cô những ngày trên đảo, nhưng cô bé cũng nghĩ tủi phận mình vì chắc là Isabelle sẽ đi cùng với Phong để đến thăm cô. Văn phòng của Isabelle sẽ tạm đóng cửa một thời gian, vì phải vài tuần nữa ở Trung Ương mới tìm được người có khả năng tương đương để thay thế. Phương Vân nhìn quanh một lượt trước khi ra về thì bỗng nhìn thấy máy Fax của văn phòng đã in ra một điện thư từ hôm trước còn nằm đó.  Cô cầm lên xem với ý định là nếu thư quan trọng thì phải chuyển tiếp cho Isabelle. Nhưng đây chỉ là thư riêng và khi đọc xong cô bé đã không đứng vững và phải ngồi xuống ghế để cho  hai hàng nước mắt tuôn rơi vì cô thấy đó là thư của Phong gừi cho Isabelle.

Em Vân thương yêu:

Chỉ  còn mấy ngày nữa là chúng ta lại được gặp nhau.  Anh muốn viết nhiều hơn nữa để tỏ tấm  lòng thương nhớ của anh. Nhưng qua mấy dòng điện thư ngắn ngủi, anh chỉ muốn nói rằng anh sẽ mãi mãi là của em.

TM

  Phương Vân cố nén lại sự đau khổ đang bừng bừng lên trong lòng. Cô bé thấy bỗng dưng ghét cái tên Vân của mình vì nay anh dùng để chỉ người khác. Cả cái bút hiệu anh thường ký là “TM” mà cô bé vẫn tưởng anh viết tắt hai chữ “Thương Mây”, nhưng bây giờ theo cô có nghĩa là “Thương Em”, và Em bây giờ là Hồng Vân chứ không còn là  Phương Vân nữa. Cô muốn xé nát bức điện thư, nhưng rồi nghĩ lại và gấp cho vào trong bóp. Cô muốn giữ lá thư để mỗi lần coi lại sẽ nhắc nhở cho cô biết lòng dạ lừa dối của con người. Nếu có dịp, cô sẽ đưa lại thư này cho Phong.

  Thực ra Phương Vân đã không biết đây chính là thư mà Phong gửi cho cô bé. Trước khi về Hoa Kỳ Isabelle đã gọi điện thoại cho Phong biết đã thu xếp xong cho Mây đi Toronto, và cho số máy Fax để Phong có thể gửi điện thư cho cô bé, ngày hôm đó còn ở văn phòng. Cũng theo lời dặn của Isabelle, Phong đã không gọi điện thoại nói chuyện để gây thêm rối loạn cho cô bé, vì công việc lo giấy tờ sang định cư ở Canada hiện nay đang do Peter thu xếp. Peter cũng sẽ liên lạc để cho Phong biết chi tiết sau khi Phưong Vân đã tới Canada và hẹn ngày để mọi người cùng sang thăm cô bé.

**********************

  Phương Vân đã trải qua một tháng trời bận rộn, chuyển từ trại Bidong sang thành phố trù mật Toronto của Canada. Thành phố này với hơn 2 triệu dân là thủ phủ của Tỉnh bang Ontario và cũng là thành phố lớn nhất của Canada, nơi tập trung những cơ quan kỹ nghệ và kinh tế quan trọng nhất của xứ này. Peter Williams đã chọn cho Phương Vân tới tỉnh này, mặc dầu ở nơi đây giá sinh hoạt vào loại cao nhất ở Bắc Mỹ, nhưng bù lại thành phố Toronto là nơi có nhiều sắc dân từ các nước ở Âu châu tới, làm cho đời sống dân trí rât thanh lịch và cởi mở. Thành phố lại sạch sẽ, ít nạn trộm cắp du đãng, và đã được xếp vào hạng những thành phố đông dân cư và an toàn nhất ở Bắc Mỹ.

  Ra đón Phương Vân ở phi trường quốc tế Toronto có mấy đại diện của một Họ Đạo và gia đình cô em gái của Peter Williams, chồng lả một kỹ sư của Hãng Ontario Hydro là một hãng lớn cung cấp thuỷ điện lực cho một phần lớn của Canada. Gia đình ngoài hai vợ chồng còn có hai cô gái nhỏ, hôm ra đón đều mang hoa và quà  cho Mây. Trong hai tuần lễ đầu ở nhà của Jack và Sylvia Brenner, ngày nào Sylvia cũng cùng một đại diện Họ Đạo đưa Phương Vân đi khai giấy tờ và khám sức khỏe tổng quát. Mây đã có khả năng ngoại ngữ về Anh văn nên cô chỉ muốn ghi tên xin việc làm dậy trẻ em lớp mẫu giáo hay bán hàng mỹ phẩm ở mấy hiệu lớn. Tuy vậy Jack và Sylvia đều khuyên Phương Vân nên nghỉ ngơi ít lâu để quen với khí hậu Canada, và hơn nữa việc làm ở vùng này dễ kiếm nên chỉ cần nộp đơn khi mình sẵn sàng nhận việc mà thôi. Trong hai tuần lễ này chừng vài ngày Peter lại gọi điện thoại về nhà cô em để hỏi chuyện Phương Vân. Cô bé thật lấy làm cảm kích về thái độ ân cần của Peter, và mỗi lần nói chuyện xong cô lại thấy giận Phong, giờ này đã sống vui thú ở nơi nào bên cạnh Hồng Vân rồi. Nhưng chỉ có anh là đã quên cô bé mà thôi, còn  Isabelle lại năng gọi điện thoại nói chuyện với cô bé và đôi khi cả với Sylvia để lo cho cô bé không thiếu một thứ gì ở miền đất mới. Nhiều khi Phương Vân thấy hối hận vì đã để tâm oán giận Isabelle vì thực ra cô không thấy nàng đã làm gì để lừa dối cô cả. Mọi sự có lẽ chỉ do tính tình phong hoa của anh mà thôi. Nhiều lần cô bé đã muốn hỏi tin tức của Phong, nhưng không thấy Isabelle nói gì về con người ấy nên cô lại thôi, và hàng ngày chỉ muốn làm sao để xoá nhòa hình ảnh của anh trong tâm trí mình. Nhưng càng nghĩ đến Phong cô lại càng thấy anh hiện ra săn đón ân cần như đối với cô khi còn bé. Đã từ lâu cô bé không còn nói hai chữ “ghét anh”, nhưng bây giờ cô chỉ mong có dịp gặp lại anh để nói hai chữ ấy cho hả cơn bực tức của mình.

  Sylvia Brenner đã theo đúng như lịch trình của Isabelle đưa ra cho Phương Vân. Sau hai tuần ở nhà với gia đình cô, Isabelle đã thu xếp để Phương Vân có phòng riêng, bắt đầu bằng dọn tới ở khách sạn Westin Harbour Castle là một khách sạn gồm có 977 phòng ở hai tầng cao ốc ngay trên bờ hồ Ontario. Khi tới nơi cô bé đã ngỡ ngàng khi thấy phòng ốc sang trọng, nơi nào cũng có đá hoa, phòng ngủ bầy biện như để tiếp đón một vị công nương chứ không phải là một thuyền nhân đến từ đảo. Nhưng khi Sylvia giúp cô ký giấy lấy phòng ở trên lầu cao có cửa sổ nhìn ra biển hồ Ontario, thì cô hành chánh cũng đã nói ngay là tiền phòng được tính theo giá hạ của chính phủ và trả trước một tháng rồi. Buổi tối hôm ấy Isabelle có gọi thêm để cho Phương Vân an tâm là mọi chi tiêu trong những tháng đầu của cô bé đã có trong chương trình giúp đỡ người tỵ nạn của Phủ Cao Ủy với phần đóng góp của chính phủ Canada. Isabelle đã mãn việc với Phủ Cao Ủy Tỵ Nạn tại Liên Hiệp Quốc và hiện nay cô đang ở Hoa Thịnh Đốn để thảo luận về môt việc làm tương tự với Sứ quán Pháp ở Thủ Đô. Cô đã gặp Peter và cuối tuần này, vào tối thứ Bẩy hai người sẽ bay sang Toronto để thăm cô bé. Sau khì Isabelle nói Hello và chúc Phương Vân ngủ ngon, cô bé đã nói với nước mắt ràn rụa:

-  Chị nhớ sang sớm nhé! Em mong gặp lại chị. Em nhớ chị lắm.

***********************

  Chiếc xe Toyota Camry mới mua của Phong có thể chạy bốc vọt lên 90 hay 95 mph một cách dễ dàng mà chàng không dám nhận ga vì phải cốgắng giữ trong vòng 55 mph của chính phủ khuyến cáo trong lúc giá săng đắt đỏ này. Ra khỏi điạ phận của thành phố Cleveland, Phong bắt sang xa lộI 90 E đểtrực chỉ chạy về thành phố Buffalo. Suốt mấy tuần lễvừa qua, từ ngày được tin Phương Vân đã rời đảo Bidong, Phong lúc nào cũng bồn chồn muốn được sang Toronto để săn sóc cô bé và hỏi thêm về tin tức gia đình, tuy chàng cũng đã được Isabelle cho biết ít nhiều. Nhưng với lời yêu cầu của Isabelle, những ngày vừa qua Phong đã để cho Peter đóng vai chủ động, và mọi việc đã được thực hiện như cả ba người cùng mong ước. Hôm nay Phong sẽ tới đón cô bé ở khách sạnWestin Harbour Castle ở ngay đường Harbour trên bờ biển Hồ Ontario, và mọi người sẽ có một buổi hội ngộ lúc 6 giờ chiều ở phòng ăn  Mizzen Restaurant ở dưới nhà. Khi xe  bắt được sang đường QEW là đường đặt tên Nữ Hoàng Elizabeth chạy thẳngvào Toronto, Phong mới tăng thêm tốc độ để người được thoải mái vì hơn ba giờ lái xe giữ ở tốc độ chậm như rùa, người chàng đã thấy thật căng thẳng.Với trí óc đưọc thoải mái Phong nghĩ đến những ngày cùng bàn thảo vói Isabelle vàPeter đểtìm cách lo cho Phương Vân và cảm thấy rằng họ đều là những người có tâm hồn cao thượng. Chiều nay gặp Peter,chàng s ẽbộc lộ lòng cảm kích về những gì họ đã làm thay cho chàng.

Đồng hồ mới chỉ 4 giờc hiều mà Phương Vân hết đứng lên lại ngồi xuống không yên. Cô nhớ là Isabelle đã hẹn cô cùng với Peter ăn cơm tối nay ở phòng ăn dưới nhà vào lúc 6 giờ chiếu và sẽ tới đón cô sớm hơn để hàn huyên. Cô bé thật không biết nói gì với những người này mà cô chịu ơn, nhất là được biết là ngay bây giờ, với tính cách là thưòng trú nhân, cô có thể xin đoàn tụ cho mẹ và hai anh cùng sang giải đất hiếu khách này.

  Có tiếng gõ cửa và Mây chạy vội ra,nghĩrằng có lẽ là Peter vì đàn ông bao giờ cũng đến sớm. Nhưng người trong khung cửa lại là Phong, người năm xưa và giờ trong tay chàng cầm một bó hoa hồng đỏ.Phong nhìn thấy Phương Vân chững chạc và tươi đẹp hơn ngày xưa nhưng kỳthaykhông như chàng nghĩ là cô bé sẽ chạy ra ôm chầm lấy chàng và khóc vì thương nhớ sau bao năm xa cách. Cô bé lại có vẻ lạnh lùng, hờn dỗi. Phong đành phải hỏi:

-  Anh  vào thăm em có được không?

   Không trả lời, Phương Vân tránh người một bên chừa lối cho Phong, nhưng quả thật nàng  muốn hét toang vỡ giọng đuổi con người bội bạc ấy ra, nhưng nàng không đủ can đảm vì sự xuất hiện của Phong đã tưới dịu những hờn tủi trong mình. Phương Vân đóng cửa  và đi thẳng đến chiếc sofa ngồi xuống nặng nề hờn dỗi. Nàng không mời Phong ngồi nhưng  biết Phong sẽ đến bên cạnh nàng. Quả thật Phong bước đến và đặt tay lên vai cô bé, giọng Phong nồng nàn:

-  Anh  rất nhớ em, em  có biết không?

   Phương Vân né người đểcho bàn taycủa Phong tuột xuống và nói:

-  Anh để bó hoa hồng này ra ngoài kia. Cô Mây Hồng của anh hôm nay chắcđến muộn.

   Vì bực tức với Phong mà cô bé nhắc đến Isabelle với dọng nói thiếu khiêm cung hàng ngày. Phong ngạc nhiên hỏi lại:

-  Bó hoa này là anh cầm đến để tặng em mà. Kỷ niệm ngày chúng ta liên lạc lại với nhau.Anh chờ đợi đã hơn ba năm nay rồi.

   Phương Vân thấy giọng Phong tha thiết quá như xoáy vào nỗi cô đơn của mình. Nàng  cúi đầu nước mắt vòng quanh. Hồi lâu, gạt nước mắt cô bé chạy lại đầu giường ngủ lấy cuốn sách đang đọc và rút ra tờ điện thư Phong gửi trước đây:

-  Anh nói thật không? Vậy thư này anh gửi cho ai?

   Phong ngỡ ngàng nhìn tờ Fax rổi bỗng nhiên chàng hiểu. Cái tính hay nghi ngờ của Phương Vân nay đã thành huyền thoại. Trong bao năm xa xứ đã nhiều lần Phong phải viết thư về dỗ ngọt cô bé vì những chuyện hiểu lầm giận dỗi không đâu. Phong cầm tay Mây, lấy tờ thư đặt xuống bên cạnh và nói:

-  Thư này anh gửi cho Phương Vân, cho Mây của anh, và anh cũng ký ở dưới là Thương Mây như chúng ta thường nguyện ước với nhau, em còn nhớ hay không?

   Phương Vân nước mắt ràn rụa, và cô bé ngượng ngùng :

-  Em đã hiểu rồi…

   Phong nâng cầm Phương Vân và ngắm đôi mắt to đẹp của nàng, và hình ảnh khi xưa cô bé nhìn chàng cầu cứu để tránh ngọn roi thịnh nộ của bố nay lại hiện ra. Trước mắt  Phong, chàng thấy người thiếu nữ đang cần chàng che chở. Lòng Phong rung động thật sự. Chàng kéo nhẹ thân hình của Phương Vân về phía mình, và như không còn chờ đợi được một sự thôi thúc nào nữa, Phương Vân ngả hẳn đầu vào vai Phong. Trong vòng tay rắn chắc của ngườiđàn ông nàng oà lên nức nỡ, khóc như trút bao sự thương nhớ, giận hờn lẫn sung sướng. Hình như nàng quên hẳn Phong bây giờ đã nhiều tóc bạc hơn, nhưng trong lòng nàng chàng vẫn là một điểm tựa cần thiết.

   Phong nắm lấy bàn tay mềm mại của Phương Vân, bàn tay thon nhỏ trắng nuột nà và bỗng sực nhớ ra điều gì. Chàng lấy tay xoa những ngón tay thuôn nhỏ. Phương Vân còn thút thít khóc, nàng nghe Phong hỏi nhỏ đủ để lời thì thầm cô bé nghe được :

-  Em có đổi ý không?

Cô bé không trảl ời nhưng mái tóc lay nhẹ thay cho lời nói “không”. Vâng, nghĩa là nàng sẽ  không xa Phong, dù cho thế nào chăng nữa. Hồi lâu, Phương Vân khe khẽ hỏi:

-  Em làm mất chiếc nhẫn rồi. Anh có giận em không?

Phong trả lời cô bé:

-  Em có nhớ cô gái ngưòi Hoa không? Chiếc nhẫn Garnet mừng sinh nhật tháng Giêng, em đã đưa cho cô ấy và cô ấy đã trao lại cho anh.

Phương Vân nhớ lại. Hôm đó vì tình trạng khẩn cấp, Phong cho người về đón gia đình mà bố còn đi vắng nên mọi người phải ở lại và cô bé đã rút chiếc nhẫn ra nhờ trao lại cho anh. Giờ đây Phong vẫn còn giữ và để ở túi áo ngực. Chàng lấy ra và đeo lại cho Mây. Chưa bao giờ cô bé cảm thấy hạnh phúc như bây giờ vì những gì của cô nay đã trở về với cô. Anh Phong sẽ vĩnh viễn là của Mây, cô thầm nghĩ như vậy. Phong kể lại một câu chuyện năm xưa:

-  Cô gái tới nhà gặp em hôm đó cũng có một cái tên tiền định là Triệu Minh Bích, có nghĩa là ngọc sáng nước Triệu. Thời Chiến Quốc có Lạn Tương Như làm quan nước Triệu. Vua Huệ Văn Vương nước Triệu được họ Hoà nước Sở tặng viên ngọc bích rất qúy. Tần Chiêu Vương xin dâng 15 thành để đổi lấy viên ngọc. Vua Triệu sai Lạn Tương Như mang ngọc đi đổi lấy thành, nhưng tới nơi thì Tương Như biết được lòng tham cuả vua Tần chỉ muốn lấy ngọc mà không muốn dâng thành nên bảo vệ được viên ngọc qúy để quay trở vềvới Triệu.

Nghe anh kể chuyện, Phương Vân thấy lý thú nên cười hích hích. Phong tò mò hỏi cô bé có chi mà cười thì được trả lời:

-  Nghe anh kể thì anh có vẻ phục cái ông Lạn Tương Như quá xá. Nhưng ông ta chỉ giữ được ngọc mà không lấy được thành. Còn em thì em vừa giữ được ngọc và cũng giữ được anh. Hi hi.

Cùng ngồi yên lặng bên nhau, PhươngVân đưa bàn tay xoa nhẹ lưng của Phong và trong cái thoáng ân cần tinh khiết đó nàng thấy được cả một định mệnh đã sắp đặt để nàng có thể chạy một vòng tròn trong đời mình và trở về bến cũ, và giờ đây mùi hương tóc của nàng đang vấn vương quyện vào vai áo Phong để chàng biết con bé ngày xưa vẫn chưa bao giờquên được nỗi sợ ngọn roi đòn của bố. Phong khẽ nghiêng đầu đặt nhẹ một nụ hôn che trở lên trán Phương Vân và cả hai người như cùng nghe thấy cả vùng không gian đang ngọt ngào xuống thấp, bao chùm hạnh phúc, để Phương Vân hiểu được rằng mình đã trưởng thành …

Buổi tối hôm đó, 4 người bạn cùng ăn ờ Mizzen Restaurant trong khách sạn. Trông cặp mắt của Phương Vân ai cũng biết là cô bé vừa khóc, nhưng là khóc vì hạnh phúc. Mọi người đều bàn về tương lai. Phương Vân có lẽ còn phải ở Toronto một thời gian cho đến khi xin cho được cả mẹvà hai anh sang đoàn tụgia đình. Isabelle cũng bỏ dự định về Pháp vì nàng đã xin được một chức Tham Vụ ở Sứ Quán tại HoaThịnh Đốn, và điều này đã làm Peter Williams rất hoan hỉ. Trong thời gian qua,làm việc với Isabelle, Peter đã thấy nàng có những đức tính đáng làm cho người cộng sự cảm phục.  Hai người cùng hứa là sẽ dự đám cưới của Phương Vân và Phong, dù cho là ở Toronto, hay ở Cleveland, hay ở bất cứ một nơi chân trời góc biển nào.

Buổi ăn tối kết thúc muộn, và khimọi người cùng đứng lên, Phong khoác nhẹáo của mình lên vai Phương Vân và  nhìn Peter cười hóm hỉnh:

-  Được săn sóc một người, kểcũng là hạnh phúc có phải không? Anh cũng cầnphải có sựlựa chọn.

Peter cười dòn và nhìn Isabelle, lúcđó đang mở bóp cầm tay như để ngắm làn môi son qua chiếc gương để bên trong. Hôm nay nàng ít trang điểm và chỉ mặc  bộ đồ Jean và áo da đen, trông nàng trẻ trung hơn lúc ởđảo, tuy vẫn giữ vẻ lộng lẫy kiêu sa của mộ tphụ nữ Việt Nam có điạ vị trong xã hội. Nhìn mấy người còn đợi mình, Isabelle bỗng hỏi:

-  Bây giờ tôi muốn đi xem phim  có ai muốn đi cùng không?

Peter giơ bàn tay lên ra hiệu đồng ý và nhìn Phong và Phương Vân như chờ đợi sự hưởng ứng. Cô bé không trả lời nhưng có dáng điệu mệt mỏi và nhìn Phong như để cầu cứu. Phong ôm lấy bờ vai tròn của nàng và nhanh miệng từchối:

- Có lẽ hai người nên đi cho vui, chúng tôi cũng phải về sớm vì mai tôi lái xe về Cleveland rồi. Cô bé này trông cũng khá mệt vì không quen uống rượu.

Phương Vân quay mặt đi và cười mỉm vì nàng biết Phong đang hết sức tỏra chăm sóc mình để nàng yên tâm làIsabelle  không quan hệ gì với chàng.  Isabelle nhìn Peter:

-  Vậy chúng ta đi chứ!

   Peter gật đầu đồng tình. Phong nhìn Isabelle khoác tay Peter và quay lại nhìn hai người vẫy tay chào.Chàng hiểu được những mời gọi của Isabelle đểtránh né những xúc cảm lạc lõng, và thoáng thấy lòng mình có một chút bâng khuâng. Nhưng Phong hiểu rõ tiếng nói của trái tim mình. Chàng đi theo, xiết nhẹ tay Isabelle thông cảm:

-  Chúc hai người có một tối vui vẻ!

Isabelle không trảlời. Nàng buông tay Peter, bướcđi trước, những buớc đi hờn trách và mặc cảm khi thấy mình quả thật cô đơn. Peter không nói gì lặng lẽbước theo sau. Họ đi bên nhau nhưng mỗi người theo đuổi một ý niệm riêng tư.

***************************

Gần một năm sau, trong căn nhà Phong mới mua ở Santa Monica thuộc tiểu bang California, một căn nhà xinh sắn vừa đủ rộng đểđón gia đình nhà vợ ở ViệtNam sắp sang trong chương trình đoàn tụ, sau bữa ăn chiều, Phương Vân ngồi với chồng ở vườn sau nhà trông ra biển Thái Bình Dương. Cô dâu mới tỳ cằm vào vai Phong thì thầm  nói :

-  Trước kia em rất thích được cùng anh đi Pháp, để xem nơi đó có gì mà đã giữ chân anh ở gần mười năm trời. Dạo đó em còn bé, và mỗi lần anh viết thư về em chỉ được nghe các anh chị kể lại. Lớn hơn một chút em mới thỉnh thoảng nhận được một bưu thiếp hình ảnh ở Paris anh gửi về cho riêng em. Em đã mơước có ngày được cùng anh lên tháp  Eiffel nhưng lúc đó anh còn ở mãi đâu đâu có nghĩ gì đến em. Bây giờ em có anh rồi anh có muốn đi cùng với em không?

Phong đưa tay úp lên đầu vợ, trông cô bé yêu kiều như một con búp bê được bày trong tủ kiếng. Chàng cảm thấy thời tuổi trẻ của mình trở lại để được nuông chiều rất mực cô bé. Chàng ấm giọng ân cần:

-  Anh sẽ thực hiện tất cả những ước nguyện của em, cho dù em có muốn lấy cả mặt trăng anh cũng phải tìm cách làm cho em.

Phương Vân cảm động, thấy muốn nghẹn ngào. Nàng xiết chặt vai Phong bày tỏ:

-  Tìm được nhau và sống trong hạnh phúc lớn lao này, em nghĩ anh đã cho em nhiều lắm rồi.  Em chỉ cần anh thật sự yêu em và đi hết quãng đời này với em, đó là vầng Trăng lộng lẫy nhất anh đã cho em rồi.

Phong thật sự xúc động, vì chàng không thể ngờ đời chàng có thể đạt được tình yêu này, niềm mơ ước bao năm không nói ra với gia đình người bạn. Với những tháng năm dài đã qua trong những vất vả sách đèn và công danh, có nhiều dịp chàng lỡ cơ hội tỏ bày ước mong của mình với Vũ là người bạn thiết. Phong đã tự nghĩ khi chàng có thể  thong dong nghĩ đến việc thành gia thất thì mình cũng đã lớn tuổi trong khi Phương Vân là một thiếu nữ trẻ đẹp nhiều tơ vương mà nàng vẫn chờ đợi để trao trọn ân tình này cho chàng. Tiếng của Phương Vân vẫn thầm thì với chàng:

- Em biết là Isabelle rất qúy mến anh. Chị ấy cho em hay là khi anh đọc thơ Adamo cho chị ấy nghe mà có câu:

Anh yêu cô Bé ngây thơ,

Ngồi lòng anh kể vu vơ chuyện đời là chị ấy biết cô bé của anh là airồi.

-  Thật lúc đó anh không để ý. Nhưng có lẽ đó là tiền duyên vì anh thíchbài này của Adamo khi mới được phổ biến trên những đài phát thanh ở Bỉ và ở Pháp. Nhưng còn em, có bài hát nào mà em thích không? Và có giống như hoàn cảnh của em không?

-  Em thích bài “La Vie en Rose” của Edith Piaf, nhưng em không nhớhết. Anh đọc lại cho em nghe đi. Mà em cũng báo cho anh biết Hồng đây không phải là Mây Hồng đâu nhé!

Phong cũng cười và giải thích cho Phương Vân:

- Bài tiếng Pháp chính là của Edith Piaf viết và dịch ra tiếng Anh là “Lifein Pink” nghĩa là Đời Mầu Hồng. Em thích bài này là duyên may sẽ đưa lại cho em cuộc đời tươi đẹp. Anh cũng chỉ nhớ vài đoạn chính.

La Vie En Rose - Edith Piaf

Des yeux qui font baisser les miens,
Un rire qui se perd sur sa bouche,
Voilà  le portrait sans retouche
De l'homme auquel j'appartiens

Quand il me prend dans ses bras
Il me parle tout bas,
Je vois la vie en rose.

Il me dit des mots d'amour,
Des mots de tous les jours,
Et ca me fait quelque chose.

Il est entré dans mon coeur
Une part de bonheur
Dont je connais la cause.

C'est lui pour moi. Moi pour lui
Dans la vie,
Il me l'a dit, l'a juré pour la vie.

Et dès que je l'apercois
Alors je sens en moi
Mon coeur qui bat

Des nuits d'amour à ne plus en finir
Un grand bonheur qui prend sa place
Des enuis des chagrins, des phases
Heureux, heureux à en mourir.

  Phong nhớ những lời trong bài hát mà chàng đã nghe đến thuộc lòng, và thấy hình như tâm trạng của chàng bây giờ đang trải rộng trên khắp bể khơi. Tiếng sóng vỗxa xa,đưa lại như báo hiệu những ngày trăng mật của chàng mới băt đầu. Chàng quàng vai Phương Vân và mở cửa sau vườn, cả hai người cùng bước ra bờ biển. Bỗng Phương Vân đẩy nhẹ chàng ra ùa chạy trên bờ biển, buổi chiều hoàng hôn đang buông xuống  thật đẹp như trong một bức tranh với đôi tình nhân đi chân trần dẫm sâu trên cát ướt. Phương Vân cúi nhặt một cành khô nằm trơ vơ trên cát ẩm và nàng reo lên:

- Anh có nhớ bài thơ em đã chép cho anh không ?’

  Đoạn nhanh tay Phương Vân viết trên cát ướt những câu thơ mà thời còn học Gia Long cô bé đã được chị Khánh Chinh gửi cho, nhưng bây giờ chị mất rồi, bài thơ trên cát ướt của chị vẫn còn lung linh một lời thề non hẹn biển mà Phương Vân đã có lần viết gửi cho Phong:

“Ánh đèn hương nhớ ươm vào gió”

Phong cầm cành cây từ tay vợ để viết tiếp:

“Ngàn Dặm em không lạc lối về”

  Phương Vân lùi lại ngắm nhìn hai câu thơ viết trên cát mịn, nước mắt bỗng trào ra và nàng lao đầu ép vào ngực Phong và bật khóc, tiếng khóc của hạnh phúc của giấc mơ. Phong còn nhớ câu thơ này như vậy nghĩa là Phong biết được nàng sẽ trởvề. Tiếng sóng lại vỗvào bờ, họ quấn quít bên nhau mặc cho những đợt sóng con trôi nhẹ đẩy những giòng nước vào nhưng sóng nước vẫn không xoá được bài thơ Hương Nhớ, để những lời thề nguyện của cô bé vẫn còn đấy, như một tấu khúc tình yêu của Chopin đang ru ngủ cho những loài chim Hải Âu, hình như đang vỗ cánh theo nhịp hát âm vang đâu đó

“Ánh đèn hương nhớươm vào gió

Ngàn Dặm em không lạc lối về”.

Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh

Add comment

Security code
Refresh

Tìm bài theo vần ABC