TKH - banner 01

Search

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Visitor Counter

User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 

 

  Vào ngày 19 tháng 3 năm 2008 trên điện báo VnExpress ở trong nước có đưa tin “Sách giáo khoa là nguyên nhân khiến trẻ bỏ học”. Trong khi đó thì nền giáo dục vá víu của Việt Nam "Bộ Giáo Dục & Đào Tạo (GD&ĐT) chưa dám nhìn nhận chương trình, sách giáo khoa là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng bỏ học nhưng thực tế đây lại là nguyên nhân mà Bộ có thể can thiệp tốt nhất"  Môt người có thẩm quyền trong ngành Giáo dục Việt Nam là PGS.TS Trần Xuân Nhĩ, Phó chủ tịch Hội Khuyến học VN thẳng thắn cho biết hôm 18/3 là như thế. Và còn thừa nhận là đã có hơn 100.000 (một trăm ngàn) học sinh bỏ học trong học kỳ I vừa qua.

  Bên cạnh lý do kinh tế khiến trẻ phải bỏ học, theo ông Phùng Khắc Bình, Vụ trưởng Vụ Công tác HSSV (Bộ GD&ĐT), còn một nguyên nhân khác đó là chương trình, sách giáo khoa chưa phù hợp với vùng miền, đặc biệt là vùng khó khăn...

  Ngoài ra, tin các Cán Bộ Cộng sản - nay thuộc thành phần Tư bản đỏ - đã bằng mọi cách mua bằng cấp giả qua các lớp gọi là Văn Hoá Bổ Túc hệ Tại Chức để được giữ nguyên chức vụ hiện nay đương sự đang có, hoặc sẽ được thăng cấp cao hơn. Bằng cấp Phó Tiến Sĩ, Tiến Sĩ, Phó Giáo Sư, Giáo Sư v.v. rất nhiều người có.

  Trong giới học sinh, sinh viên thì lũng đoạn bởi các cuộc thi gian lận, đánh tráo bài vở, hoặc áp đảo tinh thần giám khảo, giám thị bằng quyền thế hay ngay cả võ lực để được chấm đậu.

  Trích dẫn nền giáo dục hiện nay tại nước Việt Nam còn đang bị chế độ CS khống trị hiện nay, ta thấy rằng vừa èo ọt và từ chương, sách giáo khoa nặng nề những chủ thuyết ngoại lai không phù hợp với nền văn hoá nhân bản mà chúng ta đã có trước năm 1975 thế kỷ trước. Lại bị cưỡng bức bằng những văn bằng giả do tiền bạc và bạo hành chi phối, nên thật đáng thương cho một nền giáo dục què quặt khiến cả một đất nước có tới 84 triệu người như thuyền lội ngược dòng, chẳng những không tiến mà lùi. Nên đã  đứng hạng chót về nhiều mặt đối với thế giới loài người. Thảm thương!

  Do đó chúng ta cần phải gìn giữ Văn hoá Việt nam tại hải ngoại  “khi lòng đam mê đọc và viết Việt ngữ còn thì tiếng Việt còn, mà tiếng Việt còn thì văn học Việt vẫn còn tồn tại nơi hải ngoại này”  Giáo sư Doãn Quốc Sỹ đã phát biểu khi cùng nhà văn Trần Việt Hải và Tạ Xuân Thạc đồng sáng lập Văn Đàn Đồng Tâm vào thời điểm giữa năm 2005 với hy vọng văn hoá Việt sẽ vẫn còn tồn tại và phát triển cùng với người Việt di tản đã được định cư trên hầu hết các giải đất tạm dung ở khắp nơi trên thế giới.

******

Tôi đã đọc nhiều lần bài viết “Trải Hương Theo Gió” của Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, ông đã viết:

“Vào khoảng cuối năm 1988, tôi được đọc một bài viết của bác sĩ Trần Quang Đệ, giáo sư thạc sĩ y khoa và là cựu viện trưởng Viện Đại Học Sài Gòn. Cụ viết mấy lời nhắn nhủ các y sĩ gốc Việt trong một bài đăng trên đặc san của Hiệp Hội Y Sĩ Việt Nam ở Canada. Bài viết bằng tiếng Pháp chứa đầy chân tình của một nhà trí thức nặng lòng với đất nước, trong những tháng năm cuối của cuộc đời, hằng mong sao thế hệ sau tiếp nối công cuộc xây dựng một chương trình bảo vệ sức khỏe tân tiến và hữu hiệu cho quê hương. Tôi đã dịch lại bài viết sang tiếng nước nhà, và vì tôi coi đó như là lời tâm tình bằng tiếng Việt của  giáo sư Đệ với các môn sinh y khoa, tôi đã cố gắng để không làm sai trật những ý tưởng cao siêu của nguyên bản. Tôi đã gửi bản dịch cho một người bạn là cháu của cụ và sau này bản tiếng Việt đã được đăng trên báo Hồn Việt ở Cali để tớí một số độc giả rộng lớn hơn. Giáo sư Trần Quang Đệ đã mở đầu bài viết bằng câu: “ Trong buổi chiều tàn bóng xế của cuộc đời, không còn điều kiện để dậy học, cũng không còn hành nghề, tôi thường hay tự hỏi: mình còn làm được điều gì lợi ích?”.

  Trong ý tưởng ấy Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh cho rằng giáo sư Đệ - dù lúc đó đã ngoài tám mươi tuổi - cụ Đệ lại là một giáo sư thạc sĩ đi tiên phong, đã giảng dậy nhiều thế hệ bác sĩ y khoa ở Pháp và nhất là đã hy sinh mười lăm năm lợi tức dư giả ở nước ngoài để về trong nước với mục đích chấn chỉnh nền đại học VN, xong việc, nên nay cụ đã có thể tự mãn để đi  du lịch nghỉ ngơi giải trí, tìm những thú vui tiêu khiển để thưởng tuổi già, ấy thế mà cụ vẫn còn muốn có cơ hội để góp phần gánh vác việc của mình cho tập đoàn y sĩ Việt Nam, dù sức đã mòn lực đã gần cạn kiệt. Giáo sư Vinh nói rằng ông đã đọc bức thư tâm tình ấy bằng tiếng Pháp, rồi ngồi suy ngẫm, ông lại còn dịch sang tiếng Việt, từ đó đến nay cũng đã khá lâu, có lẽ trên cả chục năm, cái thời gian ấy đủ để cho một thế hệ trẻ trưởng thành trong nghề nghiệp. Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh nói rằng tuy không phải là một y sư nhưng ông đã lưu giữ bài của giáo sư Trần Quang Đệ vì ông coi những lời nhắn nhủ của cụ Đệ như là những lời khuyên chung cho các kẻ hậu sinh trong một nền giáo dục nhân bản, những người công dân gốc Việt đang sống lưu vong, xa quê nhà.

  Giáo sư Vinh đã giảng dậy ở trường Đại Học Michigan gần 30 năm,  trong ba mươi năm ấy, ông coi như đã làm đầy đủ bổn phận của một nhà giáo, mặc dầu nhà trường vẫn muốn ông ở lại giảng dậy  nhưng ông đã xin nghỉ hưu vào đầu xuân 1999,  mới  đây theo lời yêu cầu của một vị chủ nhiệm một tờ báo tranh đấu cho Nhân Quyền ông đã viết một bài bằng tiếng Anh với đề tài  ‘‘In The Twilight of My Career as an Educator’’. Qua bài viết ấy ông nói về cảm nghĩ của chính mình trong những năm cuối của cuộc đời một nhà giáo, và nhìn lại chặng đường ông đã đi qua, đồng thời cũng nhìn vào những thành quả của thế hệ trẻ Việt đang vươn lên ở hải ngoại, rồi ông quan sát, nghe ngóng, dậy bảo những thanh thiếu niên khi ông có dịp tiếp xúc nói chuyện với họ. Ông tự vấn kế rằng: mình còn làm được điều gì ích lợi cho cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản đã bỏ nước ra đi và rồi có cách gì đây để làm lợi cho quốc gia và dân tộc (?) 

  Giáo sư Vinh  kể lại rằng ông Viện truởng Đại Học Michigan đã có một đề nghị trong buổi họp cuối năm 1998 với Hội Đồng Nhiếp Chính, do đề nghị này, hội đồng đã vinh tặng ông chức vị Professor Emeritus of Aerospace Engineering, tuy rằng chức vị và danh xưng ấy hoàn toàn có tính cách hành chánh để ông được tiếp tục hưởng những quyền lợi và xử dụng những phương tiện của đại học như những giáo sư tại chức, cũng tránh cho ông không phải dùng những danh xưng khác như là cựu giáo sư, cựu tư lệnh Không Quân chẳng hạn, và một số những danh xưng khác về các chức vụ đã khoác lên vai ông trong suốt 50 năm tức là cả một nửa thế kỷ kể từ khi ông bước chân vào đời, nhưng điều làm cho ông cảm kích hơn nữa là cùng một lúc ông đã nhận được một bản tuyên dương của Hội Đồng Nhiếp Chính đã trịnh trọng lồng trong khung kính với con dấu của đại học Michigan có chữ ký của Viện trưởng Lee C. Bollinger, một luật gia lỗi lạc về hiến pháp Hoa Kỳ, cũng là một trong những người đã được những Đại Học Harvard và Columbia chú ý đến và muốn mời vào chức vụ Viện trưởng. Cảm động hơn nữa là đoạn cuối của bảng tuyên dương có những dòng chữ như sau: ‘‘Besides his outstanding career as a researcher and educator, Professor Vinh is widely recognized for his leadership and mentor-ship to the Vietnamese community . A widely-read novelist and poet, he was awarded the prestigious Vietnam National Literature Prize in 1961. He has been much in demand as a speaker for Vietnamese organizations on such topics as education, culture, society, and the future of Vietnam and the Vietnamese people. He is widely recognized as a role model within the Vietnamese community in North America and elsewhere’’.

  Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh nói rằng nếu ông là một giáo sư Việt Học thì chắc chẳng ai lấy làm lạ và ngạc nhiên về câu tuyên dương nêu trên, nhưng ông lại là một giáo sư chuyên giảng dậy và làm các việc khảo cứu về toán,  nhất là về khoa học không gian nên ông đã ghi nhận rằng: sự việc  đó đã chứng tỏ rằng những bạn đồng nghiệp và giới chức đại học ở Michigan đã biết tôn trọng những cố gắng ngoại vi của ông ngoài sự đóng góp chuyên môn vào sự phát triển nền khoa học không gian Hoa Kỳ, về cả  hai phương diện huấn luyện và nghiên cứu vì suốt hai thập niên cuối của thế kỷ XX, ông đã được mời đi thuyết trình ở nhiều trường đại học từ Âu sang Á và Mỹ châu, kể cả hai miền Nam và Bắc Mỹ và xuống cả Úc châu, tới những đô thị nào mà có đông người Việt cư ngụ ông đều dành toàn thời gian để trực tiếp chuyện trò với đồng hương, đặc biệt là với giới trẻ, vì ông coi đó là nền tảng, là niềm hy vọng cho tương lai sáng lạn của cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Rồi qua những chuyến đi ấy ông đã quan sát và biết được những cố gắng và những đấu tranh rất thành công của ngươì Việt ở khắp năm châu bốn biển.

  Giáo sư Vinh cũng kể vào năm 1992, lúc đó trong một hội nghị có đề tài về sự thiếu hụt những chuyên gia ở Gia Nã Đại, ông William Winegard là Bộ Trưởng Khoa Học và Kỹ Thuật  đã nói rằng: “Chúng ta không thể nào có một xã hội có sự ganh đua để tiến hóa, nếu không có nhân sự có khả năng để ganh đua”. Nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI và sau 25 năm (kể từ ngày lớp người Việt tỵ nạn đầu tiên đặt chân xuống Hoa Kỳ), hiện nay cộng đồng chúng ta - kể cả những con cháu đời thứ hai và đời thứ ba - dân tộc VN chúng ta đã có vào khoảng hơn một triệu rưỡi người sinh sống trên giải đất miền Bắc Mỹ châu này, và khối lượng này đã trở thành một nhân lượng đáng kể, ta chỉ cần tính nhẩm để so sánh thì dân số của nhiều tiểu bang Mỹ còn ít hơn dân số của cộng đồng của chúng ta nữa, vậy thì hãy thử đặt câu hỏi rằng chúng ta có phải là một sắc tộc đóng góp hữu hiệu vào sự ganh đua vào sự tiến hóa của Hoa Kỳ hay không - mà chúng ta phải nghĩ là có -  vì hiện nay thế hệ trẻ VN đã có mặt trong hầu hết các cơ quan công quyền từ tư pháp, lập pháp đến hành pháp. Thật là điều đáng mừng, theo Bộ Thương Mại thì có hơn 300 người Mỹ gốc Việt đã có ít ra là 3 bằng sáng chế cho mỗi người. Riêng kỹ sư Đoàn Chính Trung, hiện nay là một trong những phó chủ tịch của Micron Corporation ở tỉnh Boise, tiểu bang Idaho, đã được cấp 132 bằng sáng chế.Người Việt Nam đặc biệt là xuất sắc trong những ngành kỹ thuật và khoa học bao gồm cả y, nha và dược học. Trong số hàng trăm trường y khoa ở khắp mọi nơi, nếu chỉ kể những trường thật nổi tiếng như ở những đại học Harvard, Yale, Johns Hopkins ở miền Đông và Michigan, Chicago, Northwestern ở miền Trung Tây, cho tới những trường ở miền Tây như Stanford và những đại học của California ở San Francisco, Los Angeles, thì ở nơi nào người ta cũng thấy những sinh viên Việt Nam mặc áo trắng chuyên cần theo học những lớp ở giảng đường hay theo thầy tập sự ở các bệnh viện và nhiều người đã tốt nghiệp thủ khoa, á khoa hay là một trong số 10 người đầu bảng (Top Ten) thật là danh dự khi ra trường. Theo một ước lượng  - không được chính xác lắm -  thì hiện nay ở Hoa Kỳ có vào khoảng 4200 bác sĩ gốc Việt đang hành nghề và như thế thì cứ một ngàn người chúng ta lại có 4 bác sĩ. Nói chung cho toàn thể đất nước thì tỷ lệ này chỉ có được ở những vùng thật trù phú. Nhiều bác sĩ, ở lớp đàn em và con cháu sau này, cũng đã trở thành giáo sư y khoa ở những đại học danh tiếng theo gót những vị thầy tiền bối. Một trong những người nổi tiếng là bác sĩ Nghiêm Đạo Đại, giáo sư tại trường đại học y khoa ở Pittsburgh và là người đã đưa ra một phẫu thuật tân kỳ khi ghép tụy tạng cho những người mắc bệnh tiểu đường loại I. Bác sĩ Đại cũng đã có gần hai trăm bài khảo cứu được đăng trên những báo y khoa ở Bắc Mỹ. Một tờ báo y học nổi tiếng ở miền Hoa Thịnh Đốn, hàng năm có đăng một danh sách các bác sĩ ưu hạng do chính các bạn đồng nghiệp chọn lựa và xếp hạng. Nếu chúng ta đọc trên tập san ấy thì có thể thấy trong bốn năm liền tên bác sĩ Trịnh Đức Phương trong bộ môn y khoa truyền nhiễm. Một người em trai của bác sĩ Phương cũng là giáo sư y khoa ở đại học nổi tiếng Johns Hopkins.

  Ở thành phố Long Beach thuộc tiểu bang California, khi ta tới thăm bệnh viện và phòng khảo cứu về chứng bệnh Parkinson của hệ thần kinh của bác sĩ Trương Dũng chúng ta có thể gặp nhiều bệnh nhân đã vì nghe tiếng ông mà từ nước ngoài  tới đây xin trị bịnh.

  Cách nay hơn nửa thế kỷ, khi chúng ta còn sống êm đềm ở nước nhà thì ngoại trừ ở thành phố Sàigòn là một nơi đô thị rộn rịp, còn ở các tỉnh khác từ Nam chí Bắc thì chiếc xe đạp hai bánh là phương tiện di chuyển thông thường của mọi người, thế mà giờ đây, thế hệ trẻ Việt Nam khi gia nhập quân đội Hoa Kỳ đã không ngần ngại chấp nhận những thử thách tập luyện tân kỳ như lái những phi cơ phản lực siêu thanh. Một bạn trẻ đã được Tổng Thống Hoa Kỳ W. J. Clinton nhắc đến trong một bài diễn văn quốc tế như là một tấm gương thành công đặc sắc của người Việt di tản là anh Trần Như Hoàng, người đã tốt nghiệp thủ khoa từ Trường Sĩ Quan Không Quân Hoa Kỳ tại Colorado Springs. Sau này anh ta lại được học bổng Rhodes là một học bổng rất danh tiếng để đi tu nghiệp ở Anh Quốc trước khi trở về theo học và tốt nghiệp bác sĩ y khoa tại đại học Harvard. Bây giờ anh là một bác sĩ không quân chuyên về giải phẫu vi ti, phục vụ ở San Antonio, tiểu bang Texas cùng với người vợ cũng là một bác sĩ y khoa. Vào năm 1999, những ai coi tin tức truyền hình toàn quốc về lễ mãn khóa tại Trường Sĩ Quan Hải Quân Hoa Kỳ ở Annapolis đều được thấy một thiếu nữ Việt Nam là cô Nguyễn Thị Cẩm Vân đậu Á  khoa ở một lớp có tới 737  sinh viên sĩ quan nam lẫn nữ. Qua những buổi  nói chuyện ở nhiều nơi, giáo sư Vinh đã gặp nhiều người gốc Việt là những sĩ quan cao cấp trong quân đội, có người là bác sĩ đại tá quân y chỉ huy một hệ thống bệnh viện ở cả một vùng rộng lớn. Thế hệ trẻ hơn có người đã lên tới cấp bậc trung tá và cũng đã có nhiều người từng tham dự chiến cuộc Vùng Vịnh ở Trung Đông.  Một trong những sĩ quan trẻ ông đã gặp và hỏi chuyện là thiếu tá không quân Phạm Hoàng Thư, một  huấn luyện viên trên phản lực cơ siêu thanh F-16.

  Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh cũng đã từng đào tạo nhiều kỹ sư chế tạo phi cơ, anh Phạm Hoàng  cũng đã là người huấn luyện những phi công xử dụng và như thế, theo giáo sư Vinh nói: “ Cả hai thế hệ chúng tôi đều đã đóng góp hữu hiệu vào sự phát triển của đất nước tạm dung này”.

  Cũng cần nói thêm rằng cộng đồng người Việt đã có người đại diện trong hàng ngũ những phi hành gia không gian. Đó là tiến sĩ Trịnh Hữu Châu (Egene H. Trinh) một nhà vật lý học lỗi lạc ở tuổi năm mươi vào đầu thế kỷ mới, và là người đã được bay vào không gian bao la trên con thuyền con thoi vào đầu tháng bẩy năm 1995. Ngoài ông ra, ta phải kể  hàng trăm kỹ sư và khoa học gia khác làm việc trong đủ mọi ngành chuyên môn về hàng không và không gian. Ở các hãng kỹ nghệ tư cũng có nhiều người đạt được những thành tích xuất sắc. Chúng ta có thể kể trường hợp của tiến sĩ Cai Văn Khiêm, với  nhiều bằng phát minh thực dụng, anh đã là kỹ sư trẻ nhất đạt tới điạ vị là Chief Division Technologist của Hugues Aircraft Company.

  Người Á Đông chúng ta vốn đã tôn trọng sự học nên một số những người đã chọn theo ngành nghề giáo dục. Ở Âu châu cũng như ở Mỹ châu, nơi nào có những đại học nổi tiếng Sorbonne hay ở Harvard hoặc ở một nơi nào có trình độ dậy có tiếng là cao cấp thì ta cũng lại thấy có những giáo sư người Việt ở đủ mọi ngành ở những nơi này. Không phải là chỉ ở Âu châu hay Mỹ châu mà người mình mới đóng vai giảng dậy chữ nghĩa, mà qua những lần thăm viếng phương xa, giáo sư Nguyễn Xuân Vinh đã được gặp và nói chuyện với nhiều giáo sư gốc Việt ở Đông Kinh, đất nước Phù Tang, và ở Melbourne, Sydney hay là ở Brisbane, tận mãi Úc châu, Nam bán cầu. Những thành công của người Việt không phải chỉ được biết đến trong giới hạn cộng đồng chúng ta mà thôi, mà nhiều lần đã được giới thiệu đến đại chúng Hoa Kỳ qua những cơ quan truyền thông quốc gia.

  Ở Đại Học California ở San Diego, một chiếc máy do giáo sư Nguyễn Hữu Xương chế tạo đã được National Institutes of Health (NIH) công nhận là một nguồn khảo cứu quốc gia. Với sự tài trợ để  duy trì và điều hành của NIH, chiếc máy mà các nhà khảo cứu sinh hóa học, phải ghi tên để đợi đến lượt được được xử dụng, gọi là Xương Machine, đã giúp rất nhiều cho sự nghiên cứu các tế bào liên hệ đến ung thư.

  Ở Gia Nã Đại, bà Hoàng Thiếu Quân đã là người phụ nữ đầu tiên được bổ nhiệm làm Giám Đốc Tài Chánh cho Thành Phố Montréal, với ngân sách hàng năm lên tới ba tỷ Gia kim. Một tin tức nữa đã  đăng trong một đặc san kỷ niệm lễ về hưu trí của giáo sư Lê Thành Trai của Đại Học Notre Dame ở South Bend, Indiana, là bà đã là phụ nữ đầu tiên được bổ nhiệm là giáo sư thực thụ tại Trường Luật Khoa. Trong suốt hai mươi năm, cho tới ngày giáo sư Trai nghỉ hưu vào năm 1997, bà đã là người độc nhất phụ trách dậy môn Luật Thương Mại, ngoài những phần chuyên môn khác, và như vậy tất cả các sinh viên luật tốt nghiệp trong khoảng thời gian đó đều đã  thụ huấn bà.

  Những nhân vật nổi tiếng lẫy lừng như những người kể trên, thuộc thế hệ đầu tiên của người Việt di cư, phần lớn đều là những người đã có căn bản học lực theo chương trình Pháp, và không ít thì nhiều cũng đã có kinh nghiệm sống ở nước ngoài, nên đã dễ dàng hội nhập vào xã hội mới. Điều này cũng đúng cho những tài năng ở thế hệ thứ hai, những em đã lớn lên ở trên dải đất này. Nhiều bạn trẻ đã đạt được những thành tích thật đặc biệt.

  Ở Massachusetts Institute of Technology, mà mọi người thường biết đến dưới tên đọc ngắn gọn là MIT, anh Nguyễn Tuệ đã đạt được một kỷ lục phi thường là đậu được năm bằng cử nhân kể từ Vật Lý và Toán học cho tới Kỹ Thuật Điện Tử  để rồi sau cùng lấy thêm một bằng cao học và một bằng tiến sĩ về kỹ thuật nguyên tử lực. Như thế là anh đã đoạt được bẩy văn bằng trong vòng bẩy năm tại đại học nổi tiếng MIT. Vào tháng Năm năm 1996, ở một buổi loan tin trong ngày cho toàn quốc, đài truyền hình ABC đã chọn một bạn trẻ Việt Nam là bác sĩ Nguyễn Ngọc Quang là người được vinh danh trong tuần lễ (ABC Person’s of the Week). Khi còn là sinh viên, anh đã bị một tai nạn xe hơi làm hư hại nặng tới não bộ. Vậy mà sau này anh đã cố gắng luyện tập để học lại được tất cả những gì bị quên lãng để rồi tốt nghiệp bác sĩ với hạng danh dự ở Trường Y Khoa Baylor ở Texas. Những người Á  Đông, và đặc biệt là những người Việt Nam, thì thường là hâm mộ thể thao, nhưng ít ai có đủ tầm vóc và sức khỏe để chơi môn bóng bầu dục. Nhưng nay chúng ta đã có anh Nguyễn Đạt, khi còn là sinh viên ở Texas A & M University đã chiếm được giải Lombardi vào năm 1998 là giải hàng năm dành cho người phòng vệ tiền đạo xuất sắc nhất trên toàn quốc. Sau đó anh còn được lựa chọn để làm cầu thủ nhà nghề cho Hội Bóng Dallas. Vào cuối thiên niên kỷ vừa qua, tất cả những người Việt Nam, dù ở trên đất nước hay đang sinh sống ở hải ngoại, người nào trong chúng ta cũng cảm  thấy hãnh diện về sự thành công vẻ vang của nhà đạo diễn phim ảnh trẻ tuổi Tony Bùi, người đã đoạt ba giải thưởng quan trọng là Grand Jury Prize, Audience Award và Cinematography  Award với cuốn phim  Three Seasons. Sau cùng, một chuyện cũng nên nhắc lại là vào ngày 21 tháng Bảy năm 1999, đài phát thanh National Public Radio, là một đài phát thanh toàn quốc với những lời phẩm bình văn chương và chính trị rất được lắng nghe, đã có một buổi phát thanh đặc biệt trong chương trình ‘‘Talk of the Nation’’  để kỷ niệm sinh nhật bách niên của ký gỉả và văn hào Ernest Hemingway, một trong những người đã mang giải Nobel về văn chương cho Hoa Kỳ. Thường ngày là có hàng triệu người theo dõi chương trình này, nhưng ít ai có thể nghĩ rằng một học giả trẻ tuổi người Việt đã góp phần vào việc viết bài khảo luận và trong buổi phát thanh anh cũng đã giả dọng nói của Hemingway trong màn đối thoại giữa tác giả nổi tiếng này và một nữ văn sĩ người Pháp ở Paris vào những năm cuối thế kỷ hai mươi.

  Ngoài những sự việc kể trên, còn nhiều tin tức thành công khác của giới trẻ Việt Nam, thường hay được loan tin sâu rộng trong cộng đồng chúng ta ở hải ngoại, nhưng lại ít khi đuợc chú ý và quảng bá tới quần chúng Mỹ. Tuy vậy có một số học giả mà giáo sư Vinh đã quen biết, là những người thực tâm ngưỡng mộ nền văn hoá Việt Nam và có những chương trình khảo cứu về sự hội nhập của người mình vào miền đất mới, đã viết một số bài trung thực, nêu lên những thành công đáng khen ngợi của giới trẻ. Trong nguyệt san Scientific American, số tháng Hai năm 1992, có một bài viết của các tiến sĩ Caplan, Choy và Whitmore thuộc đại học Michigan về sự thành công ở học đường của các học sinh đến từ Đông Dương. Bài viết dựa trên những cuộc phỏng vấn và sưu tầm tài liệu, hầu hết là ở những cộng đồng lớn của ngươì Việt ở Seattle, San Jose, Orange County và Houston và các tác giả đã quy định rằng sự học hành tấn tới của các em là nhờ ở sự liên hệ gia đình, phụ mẫu đã có nhiều hy sinh, đã khuyến khích con em và đã tạo nên một không khí đầm ấm, hạnh phúc dưới mái nhà, rất thuận lợi cho sự mở mang trí tuệ của con cái của mình. Ta hãy nghe Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh  kể lại rằng:

“Vào trước năm tôi xin nghỉ hưu, tuần báo US News and World Report, trong số đặc biệt phát hành hàng năm để xếp hạng những trường đại học Hoa Kỳ, theo từng cỡ, lớn hay nhỏ, và từng ngành chuyên môn, thì Trường Kỹ Thuật (College of Engineering) ở Đại Học Michigan được xếp thứ ba, sau trường MIT và Đại Học Stanford ở California. Nếu kể theo chuyên khoa thì về môn Kỹ Thuật Hàng Không và Không Gian (Aerospace Engineering), phân khoa này ở Michigan được xếp thứ tư, sau những trường MIT, California Institute of Technology, gọi tắt là Caltech, và Đại Học Stanford. Vì tôi đã dậy ở Michigan được ba mươi năm, và được bổ nhiệm làm giáo sư thực thụ từ năm 1972, nên tất nhiên là tôi đã có công lao đóng góp xứng đáng vào thành tích được xếp hạng cao của trường. Chính ở Đại Học Michigan là nơi tôi được một lần tặng giải xuất sắc về giáo dục và hai lần được tặng giải xuất sắc về khảo cứu cũng đã phải công nhận là ở Phân Khoa Hàng Không và Không Gian tôi là người có kỷ lục đã đào tạo được nhiều tiến sĩ, cả nam  lẫn nữ.  Vào đầu năm 1962, khi tôi chuẩn bị giấy tờ để gửi xin nhập học vào các đại học Hoa Kỳ, tôi đã đề theo thứ tự ưu tiên là MIT rồi sau đến Đại Học Stanford. Trong trường hợp tôi phải theo học một trường đại học công lập, thì tôi đề ưu tiên là Đại Học California ở Berkeley, rồi sau đến Đại Học Michigan ỏ Ann Arbor. Đó là những trường đại học có uy tín ở Á châu là những trường đại học giỏi đã đào tạo được nhiều chuyên gia nổi tiếng, và trong ban giáo sư cùng giữa những cựu sinh viên có nhiều người được giải Nobel về khoa học. Nhưng tôi chưa kịp gửi đơn đi thì đã được tin từ cơ quan cấp phát học bổng ở Hoa Kỳ là họ đã chọn sẵn cho tôi để nhập học, hoặc là trường Đại Học Arizona ở Tucson, hay là trường Đại Học Colorado ở Boulder. Những trường này là những trường công lập vào hạng khá, nhưng không được xếp hạng vào 25 trường đứng đầu bảng. Vì tôi ưa thích miền núi non nên đã chọn Colorado để tới  học. Tuần lễ đầu tiên ở trường, khi được hướng dẫn đi ghi tên và chọn lớp thì tôi khám phá ra được rằng đại học này, và ngay cả toàn tiểu bang Colorado chăng nữa, thì chưa bao giờ đã cấp phát văn bằng tiến sĩ về môn Khoa Học Hàng Không và Không Gian, vì môn này lúc đó còn mới mẻ. Tuy vậy tôi vẫn chuyên tâm vào học và vào ngày 14 tháng Chạp năm 1964, tức là sau hai năm và bốn tháng kể từ ngày tôi tới Colorado, tên tôi được ghi vào lịch sử của tiểu bang như là người đầu tiên được cấp văn bằng tiến sĩ về môn Hàng Không và Không Gian. Năm sau đó tôi cũng được mời làm giảng sư tại Đại Học California ở Berkeley, nhưng tôi từ chối để ở lại trong ban giảng huấn của Đại Học Colorado. Tuy vậy vào năm 1967 tôi cũng đã tới Berkeley làm giáo sư thỉnh giảng để dậy một khóa học. Và đúng mười năm, sau khi tôi được nhắc khéo là vì tôi còn bỡ ngỡ với nền học vấn ở Hoa Kỳ nên nếu đến theo học ngay ở Michigan thì thật là một cao vọng, tôi được thăng chức giáo sư thực thụ ở trường này”.

  Trong những năm vừa qua, khi giáo sư Vinh đi tiếp xúc với giới trẻ ở khắp năm châu, ông thường được hỏi là đã cộng tác thế nào với Nha Quản Trị Hàng Không và Không Gian Quốc Gia (National Aeronautics and Space Administration, gọi tắt là NASA) chưa? và trong quãng đời làm công tác khoa học, và sáng tác, công việc nào đã làm ông thích thú nhất? Thì Giáo sư Vinh đã trả lời rằng:       “Trong giòng họ tôi, nguyên quán ở Nam Định,  có rất ít người ra làm quan dù rằng theo trong gia phả, trong các tổ tiên đã có những người  đỗ đại khoa, nhưng có xuất chính rồi ít lâu sau cũng cáo quan về nhà dậy học. Cũng vì vậy mà từ khi ra trường tôi đã đi theo những bước chân của các bậc tiền nhân mà chọn con đường giáo dục. Trải hương thơm theo gió, tôi muốn hoàn trả lại bốn phương những gì tôi đã thu lượm được trong cuộc đời tầm học, và như thế dậy học và viết những tài liệu khảo cứu là con đường hữu hiệu nhất để thực hiện điều này. Nhưng thực sự ra, để trở thành giáo sư đại học ở đất nước này lại không phải dễ dàng như khi chúng ta còn ở trên quê hương mà theo thông lệ sự tuyển lựa chỉ căn cứ vào một văn bằng tiến sĩ là đủ. Từ nhiều năm nay, chúng tôi là những người trong ngành giáo dục ở đủ mọi bộ môn ở các đại học Bắc Mỹ đã lập ra một hội thân hữu gọi là Vietnamese North-American University Professors, viết tắt là VNAUP, để trao đổi tin tức qua máy điện tử và họp với nhau mỗi năm một lần, nhưng tựu trung chúng tôi tuy giầu thiện chí, nhưng thực lực vẫn còn nghèo nàn, thưa thớt. Danh sách hội viên, nhất là những đồng nghiệp trẻ, vẫn chưa được dài như chúng tôi mong muốn. Được chọn làm giáo sư ở một trường đại học tại Hoa Kỳ hay Gia Nã Đại, đặc biệt là ở những đại học có uy tín, trước hết phải qua một cuộc tuyển lựa rất gay go, khởi đầu với vào khoảng trên dưới một trăm ứng sinh, để rồi chọn ra một người, qua nhiều giai đoạn từ giới thiệu đến tham khảo, phỏng vấn, và khi được vào chung kết, trong một danh sách từ 3 đến 5 người, ứng viên phải đến làm một bài thuyết trình để toàn thể các giáo sư và sinh viên trong phân khoa có dịp được thẩm định. Lúc được bổ nhiệm làm giảng sư, với những người mới ra trường, thì theo thông lệ chỉ có hạn kỳ là ba năm, rồi sau đó nếu công việc dậy học và khảo cứu được tiến triển điều hòa thì được triển hạn thêm ba năm nữa. Sau thời gian sáu năm thử thách ấy, những giáo sư thâm niên hơn mới họp bàn để duyệt xét thành tích của người bạn đồng nghiệp trước khi đề nghị lên hội đồng khoa xin lưu nhiệm vĩnh viễn. Dù đã qua được sự gạn lọc này cũng không chắc chắn là được nhận ngay vào chính ngạch vì tôi đã nhìn thấy những trường hợp đề nghị này cho một vài giáo sư Hoa Kỳ được gửi đi nhưng không được hội đồng khoa chấp thuận. Chính những trở ngại đó đã làm cho một số những tài năng trẻ Việt Nam chọn đi những ngành khác đỡ chông gai hơn. Trong trường hợp của tôi, một khi đã quyết tâm theo ngành giáo dục và khảo cứu, tôi cũng phải hành xử theo như các bạn đồng nghiệp khác để được ở cùng một bình diện với họ. Ở các đại học có một thành ngữ mà ai cũng nhớ là ‘‘Publish or Perish’’ có nghĩa là không công bố được trên sách báo chuyên môn những sáng tác hay những kết quả khảo cứu của mình thì sẽ bại liệt. Tuy theo bề ngoài mà nói thì khi cứu xét sự lưu nhiệm các giáo sư chưa vào chính ngạch, ở đại học nào cũng công bố trên giấy tờ thứ tự ưu tiên là giảng huấn rồi mới đến khảo cứu, hay sáng tác cho những giáo sư theo khoa học nhân văn, và sau cùng sẽ đến sự phụ giúp công việc hành chánh trong đại học, như dự các buổi họp, lãnh những nhiệm vụ được giao phó hay tự tình nguyện, nhưng trên thực tế các giáo sư được đánh giá qua những kết quả khảo cứu, được thể hiện bằng những bài đăng trên những báo chuyên khoa, những cuốn sách đã xuất bản, và những lần được mời đi thuyết trình ở các đại học trong và ngoài nước hay ở những hội nghị tầm vóc quốc gia và quốc tế. Tất cả những điều này liên hệ với nhau. Muốn làm khảo cứu, tìm ra những điều mới lạ, ở một thời đại văn minh tuyệt đỉnh, ai cũng cần có một ngân khoản, thường thì do một cơ quan quốc gia, hay một xí nghiệp đài thọ, và muốn xin được những tài trợ này giáo sư phải sẵn có một uy tín trong lãnh vực của mình, nghĩa là đã phải có một số những bài khảo luận đăng trên sách báo, và muốn viết được những bài này lại cần phải có những phuơng tiện để làm khảo cứu nghĩa là phải có ngân sách để quản lý. Trong cái vòng lẩn quẩn đó, nhiều người không tìm ra đầu mối bắt đầu từ đâu, và đã phải giải nghệ, nghĩa là đi tìm cách tiến thân theo con đường khác. Tôi cũng đã trải qua những năm thử thách đó trong xã hội rất mực cạnh tranh ở Hoa Kỳ, và trong phần vụ nghiên cứu cũng đã xin được những ngân khoản khảo cứu của các cơ quan chính phủ và kỹ nghệ tư. Vì tôi làm việc về lý thuyết nên đã dùng những nguồn tài trợ này làm học bổng cho những nghiên cứu sinh của tôi, giúp cho họ qua được khoa kỳ. Những kết quả khảo cứu, hoặc được đăng trên các nguyệt san khoa học và kỹ thuật như những bài khảo luận, hay dưới hình thức những bản báo cáo chuyên ngành, đều được phổ biến qua các thư viện chuyên môn trên toàn thế giới. Một số những báo cáo chuyên môn tôi viết ra, hoặc đứng tên một mình, hoặc làm chung với các bạn đồng nghiệp hay các môn sinh, đã được Không Quân Hoa Kỳ (USAF), hay NASA là những cơ quan đã trợ cấp ngân khoản, in ra như là nhũng tài liệu chuyên môn (technical report). Những tài liệu này đều có thể tìm được ở các thư viện, hay gửi mua ở Clearinghouse for Federal Scientific and Technical Information địa chỉ gửi về là Springfield, Virginia 22151. Trong niên học 1974-1975 tôi được mời sang Pháp để làm khảo cứu ở Office National d’Etudes et de Recherches Aérospatiales gọi tắt là ONERA, ở Châtillon là vùng ngoại ô của Paris, và làm giáo sư thăm viếng ở Trường Quốc Gia Cao Đẳng Hàng Không và Không Gian Pháp, thường được các sinh viên các Truờng Lớn ở Pháp ưu ái gọi tắt là SupAéro. Trong thời gian này tôi cũng viết mấy bài về toán học và qũy đạo tối ưu để đăng trên nguyệt san khoa học La Recherche Aérospatiale của ONERA, và sau này có hai bài viết chung với những khoa học gia người Pháp lại được chuyển dịch sang Anh ngữ và đăng như là báo cáo kỹ thuật của Cơ Quan Không Gian Âu Châu (European Space Agency). Một vài bài báo tôi viết với nghiên cứu sinh, đăng trên báo chuyên môn ở Hoa Kỳ cũng đã được dịch sang Nga ngữ và đăng lại ở Liên Sô. Sau này, khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Đông Âu, sự trao đổi văn hoá và khoa học được cởi mở, tôi cũng đã viết chung bài với một viện sĩ khoa học người Nga và bài nào cũng được in theo hai văn bản ở hai trời Âu và Mỹ. Nhờ những hoạt động như thế, cùng với ba cuốn sách giáo khoa tôi đã viết và được dùng ở các nơi trên thế giới, mà những đóng góp của tôi vào khoa học không gian được chú ý ở Âu châu. Một báo cáo kỹ thuật đặc biệt do tôi ký tên được ấn hành bởi North Atlantic Treaty Organization thường được biết đến như là Liên Minh NATO vào năm 1990. Tổ chức này, tuy là liên minh chính trị và quân sự Bắc Đại Tây Dương, nhưng cũng có một ủy ban cố vấn kỹ thuật gọi là Advisory Group for Aeronautical Recherche and Development, viết tắt là AGARD, hàng năm vẫn tổ chức những khoá hội thảo. Tại một kỳ hội luận về Flight Mechanics of Space Flight, vào những ngày 13-16 tháng Một năm 1989 ở Luxembourg  tại Âu châu, để những chuyên gia thuộc các nước trong liên minh trình  bầy những dự án đóng góp của nước họ vào chương trình bay vào không gian, tôi được mời để làm tổng thư ký viết báo cáo kỹ thuật của buổi họp. Sự việc này cũng là một vinh dự đặc biệt cho tôi, vì giấy mời được sự hội ý và thoả thuận của hai vị đồng chủ tịch buổi hội luận, một vị người Pháp và một vị người Mỹ. Bản báo cáo của tôi, định phẩm hơn ba mươi bài thuyết trình kỹ thuật của mười bốn quốc gia trong ba ngày hội luận ở Luxembourg, được xếp loại chuyên môn theo thủ tục của AGARD như là một Technical Evaluation Report (TER), đã được ấn hành năm sau đó sau khi đã được hai vị  đồng chủ tịch duyệt y. Tuy theo khế ước ký kết cho chuyến đi này tôi còn được ba tháng sau hội nghị để viết bài tổng kết nhưng theo lời yêu cầu của vị đồng chủ tịch người Pháp, ở buổi kết thúc tôi được mời trình bầy trong vòng nửa giờ những nhận xét của tôi về những cao điểm của cuộc hội luận. Khi giới thiệu tôi ông chủ tịch hội nghị cũng dùng những lời lẽ thật trịnh trọng.”

  Ngoài những ngân khoản trợ cấp khảo cứu từ NASA, gửi thẳng đến đại học để nơi này thiết lập ngân sách cho giáo sư Nguyễn Xuân Vinh điều hành, một lần kia, trong một chương trình dành cho các giáo sư đại học vào mùa hè năm 1982 khi ông làm việc trực tiếp trong ba tháng tại Jet Propulsion Laboratory, viết tắt là JPL, là một cơ sở quan trọng phụ trách những chương trình thám hiểm những hành tinh trong Thái Dương Hệ của Hoa Kỳ, nhưng lại trực thuộc Đại Học Caltech ở Pasadena. Ở nơi đây ông cũng gặp lại một số cựu sinh viên và sau này cũng giới thiệu được một số sinh viên mới tốt nghiệp tới làm việc. Một trong những sinh viên do ông đào tạo, hiện vẫn còn làm việc tại JPL, là tiến sĩ Jennie R. Johannessen, một nữ chuyên gia rất xuất sắc đã là người quản nhiệm nhóm tính qũy đạo cho vệ tinh nhân tạo Galileo bay lên thám hiểm Mộc Tinh. Trong số vào khoảng ba mươi tiến sĩ đã được ông hướng dẫn tại Đại Học Colorado và Đại Học Michigan thì có chừng một  phần ba là ở nước ngoài như Đại Hàn, Nhật Bản, Hoa Lục, Đài Loan, Ba Tây và Pháp, còn đều là ở Hoa Kỳ, và hầu hết đã đạt được những địa vị khả quan trong xã hội. Giữa các môn sinh, họ vẫn liên lạc với nhau chặt chẽ, coi người thầy cũ như là môt tụ điểm.

  Trở lại câu hỏi là giáo sư Vinh thấy thích thú nhất về sáng tác nào thì ông nói rằng thật khó trả lời vì trong khi làm về khoa học thì ông để xen kẽ vào một chút văn nghệ vì ông sẵn có nghệ sĩ tính trong người, và giống như một họa sĩ vẽ tranh, ông không muốn sao chép lại một tác phẩm nào mà đã được thực hiện trước đó, do vậy mà khi đọc lại bất kỳ bài viết nào đã đăng, mỗi bài có một vẻ đẹp khác nhau làm ông cảm thấy vẫn hào hứng như lần đầu tiên tìm ra được một phương  pháp giải bài toán này còn chưa tìm được đáp số. Tháng Tám năm 1994, tại hội nghị thường niên về cơ học không gian của American Institute of Aeronautics and Astronautics họp ở Scottsdale, là một nơi nghỉ mát danh tiếng thuộc tiểu bang Arizona, ở bữa tiệc chính có vào khoảng một ngàn kỹ sư và khoa học gia danh tiếng tham dự, ông được mời lãnh giải Mechanics and Control of Flight Award cho năm ấy. Ngoài bằng tưởng lục và một nút tròn để đeo vào ve áo, ông còn được ông Chủ Tịch đương nhiệm của Viện choàng vào cổ tấm huy chương vàng danh dự. Ở một mặt tấm huy chương có khắc hình chiếc phi cơ cánh đôi của hai anh em Wilbur và Orville Wright chế tạo và vết chân đầu tiên của phi hành gia Neil Armstrong in trên mặt trăng, những hình vẽ biểu dương cho sự phát triển khoa học hàng không và không gian Hoa Kỳ trong thế kỷ XX. Ở mặt bên kia có khắc tên ông - Nguyễn Xuân Vinh - và hàng chữ tưởng thưởng ‘‘For outstanding contributions to the mathematical theory of optimal control, applied to the flight mechanics of aerospace vehicles in the atmosphere and in space’’. Giải này trước hết phải có những đồng nghiệp đề nghị, sau đó được một ủy ban chọn lựa và vì mỗi năm chỉ chọn một người, nên rất khó hy vọng nhận đưọc huy chương này, thế mà ông lại được nên nói rằng thật không bao giờ ông dám nghĩ rằng mình được giải thưởng vinh dự này.

  Nói về huy chương:  Cao nhất ở một bộ môn nào đó thì thường là đương sự được choàng vào cổ lần đầu tiên ở trên bục danh dự. Tiếp sau đó nếu bộ môn này được nhiều người hâm mộ như thường thấy ở các môn thể thao chẳng hạn thì lực sĩ tự choàng huy chương vào cổ là để chụp tấm hình bán cho báo chí hay các hãng chuyên môn làm quảng cáo!  Thế là danh dự nhận được, nay đem ra làm thương mại.

  Trong trường hợp giáo sư Nguyễn Xuân Vinh nhận được huy chương này, ông không thể làm thương mại với tấm huy chương ấy khi ông nhận được vì không có giá trị thương mại mà chỉ hoàn toàn có giá trị về tinh thần.

  Nhưng ông nghĩ xa hơn nữa rằng sẽ có một ngày nào đó, xa hay gần thì chưa rõ, ông sẽ choàng nó vào cổ để tới dự liên hoan với hàng trăm, hàng ngàn tuổi trẻ Việt ly hương khác, lúc đó cũng đạt được những thành tích hơn người ở mọi ngành và nhất là được quốc gia này công nhận như ông. Thế đã đủ nói lên rất nhiều gương thành công của dân tộc Việt là những con Rồng cháu Tiên nhưng mà với giáo sư Vinh, ông vẫn còn thắc mắc trong lòng khi thấy cộng đồng người Việt trên đất này chưa có tiếng nói đưọc lắng nghe trên bình diện quốc gia. Chỉ khi nào lời nói của cộng đồng người Việt được chính quyền chú ý, trong hàng ngũ lãnh đạo công và tư trên giải đất này có những khuôn mặt gốc Việt, hãnh diện là giống Lac Hồng thì lúc đó mới là mốc thời gian để chúng ta tưng bừng mở hội liên hoan.

  Để đạt được mục đích đó, chúng ta cần đến sự cố gắng thêm hơn nữa với sự tiếp tay của các bạn thuộc thế hệ trẻ, điều này ông thường nhắc tới trong những lần đi diễn thuyết khắp nơi và giờ đây ông đã rất vui mừng thấy xuất hiện những khuôn mặt trẻ trong hàng ngũ lãnh đạo cộng đồng. Tuy rằng ông không đào tạo nhiều kỹ sư gốc Việt nhưng ông đã gặp rất nhiều chuyên gia trẻ thuộc thế hệ thứ hai của chúng ta đang làm trong các cơ quan chính phủ liên bang và tiểu bang và ở mọi ngành kỹ nghệ ở các nơi, ông cũng đã thật là vui  khi thấy rằng các bạn trẻ ấy còn lưu tâm tới cội nguồn, tới dân tộc Việt, con Rồng cháu Tiên, do sự vận động của các kỹ sư người Việt tại Lyndon B. Johnson Space Center, viết tắt là JSC, tại Houston, tiểu bang Texas, trong tuần lễ vinh danh sự đóng góp của những người Mỹ gốc Á châu, vào ngày 8 tháng Chín năm 1989, ba khoa học gia gốc Việt đã được ghi tên vào Bảng Danh Nhân Mỹ Gốc Á  (Asian Pacific American Hall of Fame) ở  ngay Trung Tâm Không Gian này, và theo tin đã đưa ra từ ban giám đốc, hình ảnh và thành tích họat động của phi hành gia không gian tiến sĩ Eugene Trinh thuộc JPL, giáo sư Nguyễn Hữu Xương thuộc Đại Học California ở San Diego và giáo sư Nguyễn Xuân Vinh thuộc Đại Học Michigan, đã được trình bầy tại Trung Tâm Khách Thăm Viếng trong một tuần lễ và sau đó những tấm bích chương được lưu trữ làm tài liệu tại thư viện của JSC. Không cứ riêng với những người gốc Việt ở Hoa Kỳ, được coi như là sắc tộc mới thành lập thế hệ đầu tiên di cư, những người gốc Á châu khác như Hoa, Nhật, Ấn, Phi, vân vân ... dù đã đến lập nghiệp ở xứ này từ lâu đời, họ cũng phải đợi đến cuối thế kỷ vừa qua mới vận động thành công để Quốc Hội Hoa Kỳ ra sắc luật dành tháng Năm của hàng năm là tháng để vinh danh những người dân Mỹ gốc Á, cũng như tháng Hai đã được chính thức công nhận từ lâu để vinh danh những người Mỹ da đen gốc Phi Châu. Từ mấy năm nay, tuy ở các công sở liên bang hay tiểu bang, và ở một số hãng kỹ nghệ lớn vẫn có những ngày đặc biệt trong tháng Năm dành để vinh danh sự đóng góp của những người gốc Á châu nhưng sắc tộc Việt Nam vẫn chưa nổi bật lên vì nói chung địa vị trong xã hội của mình vẫn còn khiêm nhường. Ngày 7 tháng Năm năm 1990 là một ngày đáng ghi nhớ cho những người Mỹ gốc Á vì trong một buổi lễ làm ở Vườn Hồng ở toà Bạch Ốc, Tổng Thống George Bush đã ký quyết định từ nay tháng Năm được chính thức là ‘‘Asian Pacific American Heritage Month’, tức là tháng Truyền Thống của những người Mỹ gốc Á châu và miền Thái Bình Dương. Cùng với nhà cách mạng và hoạt động chính trị là bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, giáo sư Nguyễn Xuân Vinh có may mắn là được mời dự buổi lễ lịch sử này. Ngoài hai ông ra còn ba người đồng hương khác, tổng cộng là 5 người, so với tổng số khách gốc Á châu được mời dự lễ giới hạn là 200 người thì thật là ít ỏi. Tính theo sự kiểm tra dân số vào năm ấy, cộng đồng người Việt có ước lượng vào khoảng gần một triệu người thì chúng ta phải có chừng 20 người được mời dự buổi lễ mới phải. Sau buổi lễ còn có phần thuyết trình của một vài nhân vật cao cấp trong chính phủ, và trong khi chờ đợi thì giáo sư Vinh đã gặp và nói chuyện và cùng một lúc nhận ra được một số danh nhân Á châu hiện diện. Có những người như Trung Tướng William S Chen, Cục Trưởng Cục Quân Y  Không Quân, Đô Đốc Ming E Chang, Tư Lệnh Hạm Đội Thái Bình Dương, giáo sư Đại Học Chicago Subrahmanyan Chandrasekhar, khôi nguyên giải Nobel vật lý học mà tên tuổi đã được lưu vào hậu thế khi mới đây, kính viễn vọng thường trực trên không gian, sau khi phóng vào vũ trụ, đã được đặt tên là Chandra, có những người như nhạc sĩ đại hồ cầm Yo-Yo Ma, nữ minh tinh màn ảnh Nancy Kwan, dân biểu Norman Y  Mineta, sau này thành bộ trưởng và tên ông được đặt cho phi trường quốc tế ở San Jose, bang California, và còn nhiều người khác tên tuổi và thành tích sáng chói. Chúng ta phải thừa nhận rằng trong thành phần thiểu số người Mỹ gốc Á vào thời điểm ấy, tức là mới mười lăm năm sau ngày tị nạn Cộng sản để di tản sang Hoa Kỳ, sự đóng góp của người mình vẫn chưa nổi bật. Từ ngày đó, trong những dịp gặp gỡ và nói chuyện với học sinh, sinh viên và thanh niên Việt ở khắp mọi nơi giáo sư Vinh đã khuyến khích các bạn trẻ rằng không nên tự mãn về thành tích đã đạt được của mình mà phải luôn luôn học hỏi, cố gắng không ngừng. Các chuyên gia Việt ở mọi ngành, như cũng đã ý thức được sự hợp đoàn để có sự hiện diện đặc thù của con cháu Lạc Long trong liên minh Á châu, nên đã tranh đấu để dành chỗ cho người mình đến làm diễn giả ở những ngày lễ truyền thống hàng năm được tổ chức vào tháng Năm như đã được quy định bởi quyết định về ngày Truyền Thống của Tổng Thống Hoa Kỳ, riêng giáo sư Nguyễn Xuân Vinh đã được mời tới làm diễn giả danh dự ngày lễ năm 1994 tổ chức tại Ủy Ban Điều Hợp Nguyên Tử Lực Hoa Kỳ tại đại bản doanh ở Maryland và ngày lễ năm 2001 của Hãng DuPont tổ chức ở Đại Học Delaware. Những lần mời này đều do đề nghị của chuyên gia người Việt lên ban tổ chức vì thật ra công việc làm của giáo sư Nguyễn Xuân Vinh không liên hệ gì đến nguyên tử lực hay kỹ nghệ hoá chất để được giới lãnh đạo của các cơ quan nói trên đề cập tới. Trong những bài thuyết trình của ông mà nếu phần lớn thính giả là người Hoa Kỳ thì giáo sư Vinh thường nhắc đến lời nói của mục sư tiến sĩ Martin Luther King Jr. rằng: ‘‘Everybody can be great because everybody can serve’’ để nhấn vào điểm là dù cho sự đóng góp cuả cộng đồng người Việt còn ít ỏi nhưng vì chúng ta có giầu thiện chí nên cũng có thể coi như là đáng kể. Từ mấy năm nay ông chỉ làm cố vấn về kỹ thuật cho mấy chương trình khảo cứu và nhận lời dậy những khoá học ngắn cho một vài cơ quan ở nước ngoài. Vì đã bớt được áp lực phải đăng bài khảo cứu, ông có nhiều thì giờ hơn để giúp cho mấy Hội Khuyến Học ở một vài nơi mà ông đã tham gia như là một cố vấn. Chúng ta đã sống ly hương được quá một phần tư thế kỷ, và thế hệ con cháu đời thứ hai, và tiếp nối đã bắt đầu nhập cuộc. Là những người đi tiên phong, cùng với nhiệm vụ mở đường, chúng ta cũng cần hướng dẫn cho thế hệ đi sau theo cho đúng hướng và không có gì quan trọng hơn là làm cho con cháu nhớ đến cội nguồn, giữ cho tiếng Việt được bảo tồn đời đời ở hải ngoại. Để đóng góp vào sáng tác văn học Việt ở một xứ văn minh nhất trên thế giới, và để cung cấp thêm tài liệu đọc tiếng nước nhà cho các bạn trẻ nên Giáo sư Vinh đã soạn xong một cuốn sách đề là ‘‘Vui Đời Toán Học’’, với mục đích quảng bá đến mọi người rằng toán học không phải là một môn học khô khan mà lại cần thiết cho đời sống của con người, và như ông đã tìm thấy nguồn vui trong môn học này trong một thời gian dài hơn một nửa thế kỷ.

  Ước mong những sự nghiệp của Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh và Giáo sư Doãn Quốc Sỹ đã trải hương theo gió suốt hơn nửa thế kỷ, (*) rất xứng đáng được mệnh danh là những vệ binh gìn giữ và bảo tồn văn hoá dân tộc để hương thơm văn hoá Việt được trải dài trên khắp mặt địa cầu.

Tạ Xuân Thạc

Houston, Easter 2008

(*) Cả hai Giáo sư  Nguyễn Xuân Vinh và Giáo sư Doãn Quốc Sỹ đều  là Cố vấn của Văn Đàn Đồng Tâm.

 

Add comment

Security code
Refresh

Tìm bài theo vần ABC