TKH - banner 01

Search

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Visitor Counter

User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 
Truyện Đời Phi Công-Chương 11
 
Chiếc Máy Bay Cứu Thương
 
 
Anh tin rằng, cũng như các anh,
em sẽ làm bổn-phận với một nụ cười.
 
Nha Trang, ngày    tháng    năm
 
Em Phượng,
 
            Đã đành rằng ở đây cảnh đẹp, dân tình ở đây hiền-hậu nhưng anh cũng không đến nỗi như em nghĩ, sung-sướng quá rồi quên cả gian-khổ vừa qua. Nhân tiện em nói về dự tính theo học Y-khoa, anh tả đời chiếc máy bay cứu-thương cho em nghe.
            Khi anh viết cho em những giòng này, ngoài sân những chiếc máy bay đó đang nằm dài hiền-lành phơi mình trong nắng hè. Nếu có ai lại gần, đi vòng một lượt sẽ còn thấy đây một vết vá, kia một mũi hàn in dấu những viên đạn chẳng biết vô-tình hay hữu-ý. Anh không hiểu những con người đã nỡ tâm chỉa mũi súng lên những phi-cơ đó họ nghĩ gì trong lòng nhưng có một điều làm anh đau xót, thấy lòng tê lại là mỗi lần đi ngang qua sân nhìn chiếc phi-cơ số 314B, anh còn thấy một vết đạn nằm đúng chỗ tâm dấu hồng-thập-tự. Miếng vá làm chỗ đó dày cộm lên như một trái tim nứt rạn. Vết sơn mới phủ đè lên loang ra như một vũng máu đào. Nếu những lúc họ ấn tay lên cò súng họ nghĩ rằng ngay sau dấu hồng-thập-tự đó, trong thân tàu có một chiếc băng-ca trên có một con người nằm rên-xiết, nếu họ nghĩ rằng người phi-công lái máy bay đang cắn chặt răng để cho tình-cảm khỏi ứa trào, để cố tâm không nghĩ tới những tiếng kêu như xé ruột văng-vẳng bên tai của con người đang nằm sau; nếu họ nghĩ như thế thì có lẽ họ đã như chúng-ta, như anh và em, họ giờ đây đã sống ở trên mảnh đất tự-do này.
 
            Anh giở lại chiếc phi-cơ cứu-thương hay giở lại người phi-công điều-khiển chiếc phi-cơ ấy cũng thế vì người và máy bay giờ đây chỉ là một khi cả hai cùng chung một hoàn-cảnh, phải hy-sinh để phụng-sự và làm tròn một sứ-mệnh thiêng-liêng. 
            Nhận được tin cấp-báo phải tới một miền hẻo-lánh để tải-thương một bệnh-nhân trầm-trọng, người phi-công dù bận công-việc gì cũng phải hấp-tấp ra sân. Chiếc phi-cơ hồng-thập-tự đã nằm trung-thành chờ sẵn. Cánh quạt vừa quay, máy chưa kịp nóng chiếc phi-cơ đã quay mũi. Cất cánh khi máy chưa kịp nóng là cả một sự liều-lĩnh nhưng người phi-công cứu-thương có bao giờ nghĩ đến việc ấy. Họ chỉ biết chậm một phút là hy-vọng cứu sống một người lại giảm đi một chút. Ngồi trong máy bay, lướt dưới những đám mây u-ám họ như nhìn thấy vết-thương của người chiến-binh, máu chảy rỉ-rỉ. Mực xăng trước mắt cũng thấy hạ dần-dần như muốn hối-thúc con người cố-gắng thêm để tranh-thủ với thời-gian.
            Thường thường như một định-mệnh éo-le mỗi lần có thương-binh cấp-cứu là lần ấy bầu trời u-ám. Có lẽ vì địch hay tấn công đồn những đêm mưa gió nặng-nề. Nhưng dù sao thì mỗi lần chiếc phi-cơ hồng-thập-tự cất cánh thì người phi-công cũng cảm thấy bầu trời trở nên sầu thảm.Ở xa-xa đã thấy hiện ra mái đồn dựng lên một khoảng đất trống chung-quanh núi rừng bao-phủ. Mấy bóng người đứng dưới giơ tay vẫy-vẫy như sợ nguồn hy-vọng mong-manh bay đi mất. Người phi-công đập cánh vẫy lại và lượn vòng tìm chỗ xuống. Một thửa ruộng con-con bên cạnh đồn đã được sửa-sang để làm sân đáp xuống. Có những ai đã từng ngồi trong ghế lái, đã biết ít nhiều về hàng-không mới có thể thông-cảm nổi những ý-nghĩ của người phi-công khi nhìn từ trên cao xuống thấy sân bé tí-teo không to hơn bàn tay. Một đầu sân là rừng, đầu sân kia là một hàng cây đứng thẳng.
Chiều dài sân có lẽ chỉ độ hai trăm thước. Mặt đất lồi lõm còn phủ đầy những vũng nước mưa của đêm qua.
            Người phi-công chặc lưỡi vì dù sao thì cũng phải xuống. Mạng người là trọng. Mấy người đứng bên chiếc băng-ca để ở góc sân nhìn theo chiếc máy bay đang lượn dần-dần xuống thấp ở trên trời. Chắc-chắn họ không hiểu được rằng trong khoảnh-khắc vừa qua người phi-công đã có đôi chút lưỡng-lự. Chiếc phi-cơ ấy giờ đây đã bay sát ngọn cây nhắm thẳng miếng đất bé nhỏ để lao xuống. Người phi-công nhìn thẳng trước mặt, răng cắn chặt, mấy thớ thịt ở hàm nổi lên. Bay thấp quá sợ đụng cây, bay cao quá chắc-chắn sẽ lỡ trớn và phi-cơ sẽ lao vào hàng cây ở cuối thửa ruộng. Vậy thì chỉ còn cách bay thấp, thật thấp. Chiếc máy bay vừa lướt khỏi hàng cây cuối cùng, người phi-công cúp ga thật mạnh để chiếc phi-cơ rơi nặng-nề lên ba chiếc bánh. Người vừa bị nẩy lên vì cái giáng thình-lình, phi-công đã phải kéo cán lái vào bụng để hai chân hãm phanh thật chặt. Chiếc máy bay rung lên, thân rần-rật, dưới những cú phanh liên tiếp. Nó muốn kêu lên với người phi-công rằng “anh ơi, em mệt lắm rồi” nhưng vì thấy sứ-mạng chưa tròn hay vì thấy chính người phi-công cũng như muốn gục xuống sau những phút trí-não bị căng-thẳng vừa qua nên nó cũng thôi.
            Chiếc phi-cơ lăn lại chỗ người đứng, bánh bê-bết những bùn. Cửa mở, mấy người hớn-hở chạy lại. Họ tò-mò ngắm con người ngồi trên ghế lái đang tủm-tỉm cười đưa tay gạt mấy giọt mồ-hôi, tuy trời không nóng lắm. Hai người khác khiêng chiếc băng-ca lại. Gió cánh quạt làm người thương-binh mở choàng mắt. Tiếng động-cơ át cả tiếng bàn-cãi. Người phi-công ra hiệu không thể bước xuống giúp được vì chân phải giữ phanh. Bệnh-nhân đưa cặp mắt lờ-đờ nhìn, cặp môi khô-héo khẽ nhếch một nụ cười hy-vọng.
            Thế rồi chiếc cửa đóng lại, phòng lái cách biệt với thế-giới bên ngoài. Mấy người đứng dưới đất bùi-ngùi nhìn theo bạn nửa mừng tủi, nửa buồn lo. Ra đi là sẽ tới một nơi giải-thoát, tới một khoảng đất yên-lành hơn. Rồi đây trong bọn người ở lại ai sẽ có lần nằm đợi chiếc phi-cơ tới đón? Bánh xe vừa mới bắt đầu quay thì có tiếng gọi và một người hớt-hải chạy lại. Thượng-sĩ đồn-trưởng miệng thở hồng-hộc tay cầm một gói thư. Mọi người đều à lên một tiếng reo mừng. Tí nữa thì quên mất! Đã ba tháng nay đồn chỉ được tiếp-tế bằng máy bay ném lương-thực xuống. Binh-sĩ nhận được thư gia-đình nhưng không thể gửi trả lời được. Thư-tín đọng lại cả chồng.
            - Nhờ Trung-uý mang giúp về hộ.
Người phi-công tủm-tỉm cười. Đám người xung quanh cũng cười theo. Thượng-sĩ trưởng đồn có tật gọi tất cả phi-công là Trung-úy. Sự thật phần lớn họ chỉ là những chuẩn úy. Một lần nữa cánh cửa khép lại và chiếc máy bay chậm-chạp bò ra cuối sân. Người thương-binh bắt đầu rên se-sẽ mỗi khi bánh xe vấp phải một viên gạch.
            Động-tác trước khi cất cánh: hạ tầm xuống 15 độ. Vặn bình xăng, rú máy. Người phi-công nhìn thẳng vòm cây trước mặt cách độ 200 thước, chân đạp mạnh lên phanh, một tay ghì cần lái vào bụng, tay kia xả hết ga. Cánh chiếc máy bay rung lên như muốn nói “Từ từ chứ anh, em mệt lắm rồi”. Người phi-công cũng thấy toát mồ-hôi. Chả hiểu có lết lên khỏi không, khi phi-cơ chở nặng, bánh sa-lầy! Một lần nữa phi-công liếc mắt nhìn quanh phòng lái một lượt để kiểm-soát phi-cụ. Hai chân nhả phanh, giữ cho phi-cơ chạy thẳng. Được vài chục thước chiếc máy bay đã thấy lồng lên rồi thình-lình người thấy nhẹ bổng và phi-cơ rời mặt đất. Người phi-công cho phi-cơ bay rất thấp để lấy tốc-độ. Chiếc máy bay nhắm hàng cây lao thẳng. Gần đến nơi anh kéo cần lái để phi-cơ vọt lên, đuôi như lết trên mấy cành lá. Người thương-binh đằng sau lại rên-rỉ.
 
            Giờ đây nguy-hiểm như đã tạm hết. Chỉ có vài tràng liên-thanh ở đâu đó bắn vu-vơ trong không-gian làm mắt người thanh-niên sáng lên, môi mím lại. Chiếc máy bay vè-vè lướt gió trong bầu trời dần tối. Trong thân nó chứa một người máu đào đã chảy để trả nợ non sông, thêm vào đấy mang một sứ-mệnh đem lại cho những gia-đình đang ngơ-ngác ngóng tin những người ra đi những nguồn hân-hoan vô-tận. Trong chồng thư chắc-chắn có những lời ngây-ngô chân-thật: “Bu nó nên để ý săn-sóc mấy luống hành” hay những câu văn-vẻ của một quân-nhân trẻ tuổi gửi người yêu: “Anh ở chốn này, nơi đèo-heo hút gió; mỗi khi nhìn về đám mây trắng ở chân trời, anh không khỏi nghĩ đến em...” nhưng tất cả đều bộc-lộ một tấm chân-tình của người chinh-phu đối với gia-đình.

 
            Ánh đèn đô-thị đã thấy bật sáng. Chênh-chếch về phía tay phải là phi-trường, người phi-công lượn vòng cuối cùng. Bánh xe êm-ái chạm đất khi tia nắng cuối cùng vừa tắt. Chiếc xe hồng-thập-tự đợi sẵn rồ máy. Đằng sau người thương-binh thiêm-thiếp. Trong cơn mê không biết anh có biết được rằng anh vừa được trở lại với cuộc đời. Ngày mai trời sẽ lại sáng đẹp.
 
            Câu chuyện tải-thương đến đây được chấm hết em Phượng nhỉ. Rồi đây có lẽ em sẽ là một trong những người tiếp-nhận thương-binh đưa bằng máy bay từ mặt trận về, để săn-sóc băng-bó cho họ. Anh tin rằng, cũng như các anh, em sẽ làm bổn-phận với một nụ cười.
 
Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh
( Xem tiếp chương 12 )
 

Add comment

Security code
Refresh

Tìm bài theo vần ABC