TKH - banner 07

Search

Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Visitor Counter

User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 

 

Sơ Lược Về Quyển Truyện Đời Phi Công.

  Đời Phi Công là một truyện  dài của nhà văn Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh. Nhưng thực ra nó là một tuyển tập gồm 14 bức thơ của một phi công gởi cho người yêu tên Phượng, một nữ sinh viên đại học, để kể lại cho nàng nghe cuộc đời của những anh chàng hằng ngày lướt gió tung mây, với một cuộc sống đầy tính lãng mạn, bằng một văn phong tao nhả, trong sáng, một bút pháp có tính cách sáng tạo, một nội dung phong phú chuyên chở được những suy tư và ước mơ của người phi công Việt Nam thời chinh chiến.

  Nhân vật chính trong truyện là một thanh niên tuấn tú được gởi ra ngoại quốc học ngành phi hành và khi đọc qua Đời Phi Công ta biết ngay nhân vật đó chính là tác giả Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh.

   Đọc Đời Phi Công ta sẽ thấy cái Thật qua văn phong của tác giả. Theo nhà văn Quyên Di :“ Cái Thật luôn luôn làm rung động lòng người vì nó thật sự chạm đến tâm hồn người ta…”

   Theo Hội Khuyến Học truyền thống Nguyễn Xuân Vinh: “ Hơn 4 thập niên qua…Đời Phi Công vẫn còn gieo vào lòng người đọc những rung động chân thành về nợ nước, tình nhà qua lời văn ngọt ngào và ý tình thấm thiết mà tác giả đã gởi gắm qua tác phẩm..”

   Dù chỉ là một tuyển tập gồm 14 bức thơ, nhưng nó đã được trao giải Văn Chương Toàn Quốc năm 1961 và được xuất bản lần thứ sáu thì đủ thấy cái tầm ảnh hưởng sâu rộng của nó đối với thanh niên thời đó là như thế náo!

   Cũng theo nhà văn Quyên Di: “ Tôi biết sau khi đọc Đời Phi Công, biết bao nhiêu chàng trai đã mơ ước mình trở thành phi công như tác giả, cũng như biết bao cô thiếu nữ mong mình lá một “Phượng” trong tác phẩm để nhận được những cánh thư đầy văn chương và nồng nàn tình cảm do một chàng phi công  vừa hào hùng vừa hào hoa nào đó gởi cho.”

   Trân trọng giới thiệu đến qúy độc giả bức thư thứ nhất được trích đăng từ tác phẩm Đời Phi Công.

    Kính.

    NHC

 

Đời Phi Công

 

Chương 1

Đường Đời Muôn Vạn Nẻo

 

…Nghề-nghiệp anh đã quyết-định lựa chọn rồi đây sẽ là nguồn sống của cả cuộc đời...

Em Phượng!

           Viết thư này anh đã ở xa em muôn vạn trùng-dương. Anh mỉm cười khi đặt bút vì nghĩ rằng em vẫn thường chê cái tính thích giang-hồ vặt của anh. Lần này thì anh đi hẳn, đi thật xa cho đến khi nào công thành anh mới trở về. Anh cũng chưa viết thư về cho Bác biết và chắc giờ đây Bác nghĩ rằng anh đang sống vất-vưởng ở một xó-xỉnh nào giữa thành-phố Sàigòn.

            Khi nào có dịp xuống Hải-Phòng em lại thăm Bác và lựa lời nói giúp hộ anh. Anh biết đã làm cho Bác buồn phiền nhiều ngay từ khi đang học Dược-Khoa ở Hà-Nội anh bỏ để vào trong Nam. Và từ dạo ấy đến nay kể đã hai năm rồi em cũng như Bác không gặp lại anh.

            Thỉnh-thoảng có nhận được một lá thư, viết dăm hàng chữ nhưng chắc rằng em đã không tin ở những lời anh viết. Câu “vẫn được bình-an mạnh khỏe” anh vẫn để ở cuối như một thông-lệ chắc vẫn thường làm em hoài-nghi mỉm cười. Bình-an có nghĩa là anh vẫn chưa có việc gì làm nhất-định, vẫn ngày ngày dạy học, viết văn lăng-nhăng, vẫn làm những cái nghề em thường mệnh-danh là những nghề bạc-bẽo. Anh biết làm thế nào được, anh thấy rằng đường đời muôn vạn nẻo làm anh nhiều khi bâng-khuâng như muốn lạc hướng. Anh vẫn thường nghĩ nơi đây chỉ là chỗ anh tạm dừng chân bước để rồi anh phải hứa với em như vẫn thường nguyện với chính anh rằng ngày mai anh sẽ khác hôm nay. Nhưng buồn thay là hôm sau anh vẫn còn cặm-cụi chấm bài, vẫn phải gạn túi lấy tiền đưa chiếc quần cũ đi là cho phẳng để ăn mặc cho trịnh-trọng, dáng-điệu cho đạo-mạo mỗi khi đứng trước thế-nhân. Tuổi hai mươi có phải là cái tuổi làm cho con người già-dặn đâu em nhỉ và hai mươi tuổi với hai bàn tay trắng đâu phải là một điều đáng phàn-nàn.

            Bác chắc không thể nào hiểu được tâm-trạng của anh cũng như em tuy đôi khi có gật đầu đồng-ý với anh một vài điểm nhưng khóe mắt em nhìn và nét mặt em hơi phụng-phịu cũng thừa để cho anh hiểu rằng em muốn anh nên nghe lời Bác. Thành-thực anh cũng muốn lắm, vì Bác cũng đã già lại có mình anh là trai, bao giờ cũng muốn mẹ con gần nhau. Ngày ngày anh sẽ cắp sách đi học, vô-tư, ngoan-ngoãn như hồi lên mười tuổi. Anh muốn như thế lắm em ạ, vì nghĩ đến mỗi lần nhìn ảnh anh để đầu giường, Bác lại thở dài làm anh se lòng. Nhưng lần này em cũng nên cố hiểu hộ anh là làm sao anh có thể kéo dài chuỗi ngày bình-thản đến gần như vô-vị trong bốn bức tường dưới sự nâng chìu của người thân-tình trong khi anh đang thèm khát những bến trời xa lạ, muốn đi nhiều, học nhiều để sau này do chính bàn tay mình xây-dựng lấy cuộc đời. Đạo làm con anh biết mình có lỗi nhưng anh hy-vọng rằng sau này Bác sẽ hiểu mà tha lỗi-lầm cho anh. Anh không dám kéo dài, triển-hạn cái ngày về; anh chỉ muốn sau này gặp Bác anh có thể mỉm cười thỏa-nguyện và Bác sẽ thấy rằng thằng con trai bướng-bỉnh gàn dở ấy của Bác chỉ là một lãng-tử biết hối-hận quay trở về với gia-đình. Bây giờ thì anh phải đi em ạ. Anh chưa nói với em rằng tại sao anh đi vì anh không muốn báo tin cho em một cách đột-ngột. Em sẽ mở to mắt mà kêu lên là anh lại dại-dột lần thứ mấy mươi nữa.

             Anh rời Sàigòn một sáng tinh-sương, trời còn hơi mờ-mờ tối. Vào dạo này Sài-thành hay mưa, nước đêm hôm trước còn đọng từng vũng trên đường. Chiếc xe ca chở anh tới Tân-Sơn-Nhất chạy quanh co qua những phố vắng. Thỉnh thoảng một chiếc xích-lô máy kêu ầm-ĩ chạy ngược lại, hai ngọn đèn pha yếu ớt ánh vàng như những cặp mắt ngái ngủ, sau một đêm thức nhiều mệt nhọc. Tuy vậy tâm-hồn anh thấy vô cùng sảng-khoái, anh không thấy náo-nức hớn-hở như những khi sắp được đi xa của một thời thơ-dại vì những ngày qua đã làm anh trở nên trầm-tĩnh hơn.

            Không cần nói em cũng biết rằng anh đi không một người đưa tiễn vì anh rất ghét những bịn-rịn của buổi chia ly. Lần này hơi khác vì đêm qua anh còn ngồi nói chuyện với mấy người bạn thân đến gần khuya mới trở về quán trọ. Sống với nhau gần hai năm trời họ là những người chia-sẻ vui buồn với anh trong chuỗi ngày vừa qua. Lúc xa nhau, anh chẳng đành không có lấy một lời từ-biệt.

            Bốn chiếc động-cơ mở hết tốc-lực của chiếc phi-cơ cất cánh đã làm anh trong giây phút luyến-tiếc quê-hương, nhớ đến những người thân-tình. Anh thấy nhớ Sàigòn quá, nhớ hơn cả Hà-Nội. Có lẽ tại Sàigòn đã cho anh nếm hết tất cả mùi vị cay đắng của cuộc đời. Rồi anh nghĩ đến em, đến Hà-Nội. Lúc này chắc em đã bắt đầu sửa-soạn đi học.

Đêm đêm ở Hà-Nội chắc em vẫn nghe thấy tiếng súng ở làng mạc xa-xôi vọng về? Thế rồi hôm nay em vui-vẻ tung-tăng bước trên đường không biết rằng cũng ngày hôm nay anh bước chân vào một cuộc đời ly-hương lòng rộn lên muôn ngàn vương-vấn.

            Máy bay lần lượt hạ cánh ở Calcutta, Karachi, Beirut, La-mã và cuối cùng ở Ba-lê. Anh tới kinh-thành ánh sáng một buổi chiều mùa thu lá vàng rơi đầy đường sau khi đã lênh-đênh trên mây trời hơn 30 tiếng đồng hồ. Chắc em không thể tưởng-tượng được rằng rồi đây cuộc đời của anh sẽ lênh-đênh như thế mãi. Lúc anh bước chân xuống Karachi để máy bay lấy xăng, người phi-công thuyền trưởng lại gần anh xin lửa châm thuốc hút có hỏi:

- Tôi xem phiếu lý-lịch hành-khách thấy đề tên ông sang Pháp học lái máy bay?

Anh gật đầu, người ấy nói tiếp:

- Rồi ông sẽ thấy bay là một cái nghiệp. Mắc vào rồi nó sẽ vướng lấy mãi.

Câu nói ấy làm anh trầm-ngâm suy-nghĩ. Máy bay cất cánh ở Karachi vào 9 giờ đêm để tới Beyrouth vào mờ sáng. Anh ngồi trong ghế dựa lắng nghe phi-cơ từ-từ lên cao chìm trong đêm tối. Qua khung kính bên cạnh muôn vàn vì sao lấp-lánh làm anh có cảm tưởng rằng mình đang tan dần trong vũ-trụ mờ ảo. Đèn trong tắt hết. Trên mỗi ghế có một ánh đèn nhỏ lờ-mờ để cho những hành-khách nào muốn thức đêm đọc sách. Anh nhìn vào chiếc đèn đỏ cuối phòng đề chữ No Smoking để đợi tắt mới lấy thuốc ra hút. Ý-tưởng đầu tiên đến với anh khi vừa thở làn khói thuốc lên trần là ở trong cái nghề-nghiệp bay này có những giờ giấc khắt-khe. Có giờ người ta được phép hút thuốc để cho lúc đèn đỏ lại bật phải vội-vã dí mẩu thuốc cháy đỏ vào chiếc gạt tàn. Hẹn chín giờ cất cánh thì chín giờ một phút bánh xe phải rời đất. Cứ nghĩ cái con người lông-bông như anh rồi đây phải khép vào kỷ-luật như thế cũng hay. Cuộc đời chắc sẽ tạo anh thành con người khác. Còn như đi học lái máy bay để có một cái nghề thì chửa chắc đó đã là ý-định chính của anh.

            Em chắc vẫn thường thấy anh nói rằng nước mình thiếu ngành chuyên-môn và phần đông thanh-niên mắc phải bệnh trọng văn khinh võ. Một ngày kia mình sẽ phải tiến kịp với mọi người. Một ngày kia mình phải có một quân-đội hùng-mạnh. Cũng vì thế mà anh muốn trở thành một phi-công và hơn thế nữa một phi-công quân-sự. Em cũng đừng vội kêu lên anh là xếp bút nghiên để khoác chiến-bào. Trong thời ly-loạn này dĩ nhiên mang nhung-phục là bổn-phận tất cả các thanh-niên nhưng câu chuyện xếp bút-nghiên chỉ là câu chuyện cổ khi mà người tráng-sĩ chỉ biết độc có một chuyện mài gươm dưới trăng, hát bài ca chính-khí, để rồi sáng hôm sau nghe tiếng tì-bà giục lên ngựa, cố uống cạn chén rượu bồ-đào cho say túy-lúy trước khi ra đi. Người quân-nhân hiện nay hơn lúc nào hết phải học hỏi nhiều cho mình mỗi ngày một tiến. Nếu em có thấy anh trở về trong bức chiến-bào em nên cười sung-sướng mới phải.

            Khi máy bay đến Beirut thì anh cũng vừa tan giấc mộng, giấc mộng của một người tráng-sĩ ra đi vì nợ nước vì căm-thù bọn quỷ đỏ hại dân lành chứ không phải giấc mộng phong-hầu của những người còn nặng mối hoàng-lương của thời vang bóng khi xưa.

            Rồi phi-cơ tiếp-tục hành-trình, ghé La-mã chừng hai giờ đồng hồ đủ để anh giở khoa ngoại-ngữ vừa nói vừa ra hiệu mới mua được cho Bác và cho em hai chiếc khăn quàng lụa.

            Như em đã biết, anh tới Ba-lê vào một chiều thu lá rụng đầy đường. Những cây trơ-trọi như những xác vô hồn. Anh ở trong khu nhà sĩ-quan gần trường bay Bourget. Cảnh vật chiều nay ảm-đạm lạnh-lùng. Buổi sáng ở đây vừa có một chiếc phi-cơ Junker 52 bị rơi, mười chín người bị cháy ra tro. Trong buồng ăn không ai nói một lời. Vài người ngửng đầu nhìn lên khi anh bước vào rồi lại cúi xuống.

            Tối nay căn phòng sưởi ấm anh vẫn còn thấy lạnh, một nỗi hàn bao-la của kẻ không nhà. Chính vào lúc đó anh viết cho em mấy giòng này. Anh viết với đầy tin-tưởng rằng ngày mai trời sẽ ấm lại. Nghề-nghiệp anh đã quyết-định lựa chọn, rồi đây sẽ là nguồn sống của cả cuộc đời anh.

            Em cũng như tất cả những người thân-tình, cũng như tất cả những người dân Việt chắc hẳn phải đồng ý rằng nước nhà cần có đủ mọi ngành quân-lực. Đường đời muôn vạn nẻo anh đã chọn lấy một hướng, dù gian-nan muôn trùng anh cũng sẽ mỉm cười dấn bước. Anh mong rằng em sẽ đọc hết bức thư này với một nguồn vui mới trong lòng.

Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh

(Xin xem tiếp chương 2 )

 

Add comment

Security code
Refresh

Tìm bài theo vần ABC